Tuesday, 23 June 2026

 

Tại sao các chế độ cộng sản đều theo quốc hội chế?

LS Đào Tăng Dực

Các mô hình dân chủ chân chính là gì?

Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.

Từ 2 mô hình đó nảy sinh một mô hình thứ 3 là mô hình hỗn hợp. Mô hình hỗn hợp này có khi thiên về tổng thống mạnh, như tại Pháp, có khi thiên về quốc hội mạnh như tại Đức, hoặc có khi phân chia quyền hành pháp giữa tổng thống và quốc hội.

Tuy nhiên tựu trung cũng chỉ có 2 mô hình dân chủ chính mà thôi.

Sự khác biệt giữa hai mô hình dân chủ này là gì?

Đó là mô hình tổng thống chế đặt căn bản trên tư tưởng của triết gia chính trị người Pháp Montesquieu với quan điểm Tam Quyền Phân Lập: có nghĩa là quyền lực chính trị chia làm 3 nhánh: Hành pháp (tổng thống), lập pháp (quốc hội) và tư pháp (Tối cao pháp viện và các tòa án) hoàn toàn độc lập với nhau. Nhân dân bầu cả hành pháp lẫn lập pháp.

Trong khi đó mô hình quốc hội chế đặt căn bản trên một quốc hội dân cử, và khái niệm chỉ đạo là “tính tối cao của quốc hội”(parliamentary supremacy). Ngoài ra, trong nghị trường quốc hội luôn có sự hiện diện của phe đa số nắm chính quyền (government) và còn có sự hiện diện của phe thiểu số đối lập chính thức( official opposition). Đảng nắm  đa số trong quốc hội sẽ thành lập nên chính quyền (tức hành pháp).  Như vậy hành pháp chỉ là sản phẩm của lập pháp (Quốc hội). Vì tính tối cao của quốc hội chế và không có tam quyền phân lập nên nhân dân chỉ bầu quốc hội là đủ.

Không có tam quyền phân lập thì tại sao dân chủ quốc hội chế như tại Anh Quốc, Canada và Úc lại là những nền dân chủ chân chính?

Lý do nằm ở 2 sự kiện chính:

1.    Có đối lập chính thức trong quốc hội và

2.    Sự độc lập của nghành tư pháp qua Hiến pháp thành văn (như tại Úc) hay bất thành văn (như tại Anh Quốc)

Có nghĩa là tuy không có tam quyền phân lập như tại Hoa Kỳ, nhưng quốc hội chế có đối lập chính thức trong quốc hội và có nhị quyền phân lập giữa lập pháp (quốc hội) và tư pháp.

Tại sao các chế độ độc tài cộng sản từ Liên Xô, các chế độ CS Đông Âu, đến Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn, Cuba, Lào đều theo quốc hội chế trên hình thức (dĩ nhiên không phải trong thực chất)?

Lý do thật đơn giản.

Đó là quốc hội chế dễ bị họ ngụy tạo và tiếm danh hơn.

Trước hết trong Hiến pháp 2013, điều 69 quy định rất long trọng:

“Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

Đây chỉ là chiêu trò tiếm danh quốc hội chế và CSVN, cũng như những chế độ CS khác sử dụng các kỹ thuật sau đây để ngụy tạo:

1.    Trước hết họ tránh xa mô hình tổng thống chế vì mô hình này đòi hỏi quá lộ liễu 2 điều kiện nền tảng: một là tam quyền phân lập rõ rệt. Hai là phải bầu cử 2 lần. Một cho hành pháp (tổng thống) và một cho lập pháp (quốc hội). Trong khi đó, nếu chọn mô hình quốc hội chế thì chỉ cần bầu cử lập pháp (quốc hội) là đủ. Khỏi bầu cử tới 2 cơ quan quyền lực, gây tranh cãi, rủi ro và tốn kém theo nhãn quan của họ.

2.    Sắp xếp (qua Mặt Trận Tổ Quốc hoặc một công cụ khác) để các ứng cử viên quốc hội toàn là đảng viên hoặc 90% đảng viên để vô hiệu hóa sự hiện diện của đối lập trong quốc hội.

3.    Một khi nắm trọn quốc hội trong tay thì họ dương cao ngọn cờ “tính tối cao của QH” qua điều 69, mà danh chánh  ngôn thuận lãnh đạo tuyệt đối. Từ tính tối cao này của QH, đảng CSVN nghiễm nhiên bố trí đảng viên vào hành pháp (CT nước, thủ tướng và nội các), tư pháp (tòa án nhân dân). Nhìn bề ngoài thì có tam quyền nhưng hoàn toàn không có phân lập.

4.    Với đa số áp đảo, đôi khi lên đến 99 hoặc 100%, họ sắp xếp cho quốc hội thông qua một bản HP vô hiệu hóa tính độc lập của tư pháp. Như vậy không còn nhị quyền phân lập (giữa QH và tòa án) như trong chế độ dân chủ quốc hội chế chân chính nữa.

5.    Để chắc ăn hơn và giảm tối thiểu tối đa tủi ro từ nhân dân, họ còn hiến định hóa luôn độc quyền lãnh đạo của đảng qua điều 4 hiến pháp, nguyên tắc tập trung dân chủ… như đảng CSVN đã làm.

Với một bản hiến pháp 2013, bóp méo mô hình quốc hội chế như trên, đảng CSVN chỉ cần mỗi 5 năm bầu cử quốc hội một lần và toàn dân như ba ba bị rơi vào rọ.

Đó chính là lý do tại sao các đảng CS rất yêu thích mô hình quốc hội chế.

 

Thursday, 18 June 2026

 

Khuynh tả và khuynh hữu: hai ý niệm nền tảng của chính trị đương đại.

LS Đào Tăng Dực

Tuy nền dân chủ đương đại có thể được mô tả như gồm có 3 yếu tố chính:

1.    Hiến định (hiến pháp là luật tối cao)

2.    Pháp trị (thượng tôn luật pháp) và

3.    Đa nguyên (quyền lực chính trị phát xuất từ nhiều tụ điểm khác nhau)

Nhưng bao gồm trong cấu trúc đó có 2 khuynh hướng chính trị nền tảng. Đó là khuynh hữu và khuynh tả.

Trong những năm gần đây, một sự chia rẽ trầm trọng xảy ra trong cộng đồng người Việt, nhất là tại Hoa Kỳ và lan tỏa ra tại hải ngoại lẫn quốc nội. Một số người Việt (tạm gọi là khuynh hữu) cho rằng những người ủng hộ Obama hay đảng Dân Chủ tại Hoa Kỳ (hay các đảng Lao Động tại Anh, Úc …) là “cánh tả” với hàm ý coi thường. Ngược lại cũng có một số người (tạm gọi là khuynh tả) cho rằng những người ủng hộ Trump hay đảng Cộng Hòa ( hay đảng Bảo thủ tại Anh, Tự Do tại Úc…) là “phát xít” với hàm ý chê bai tương tự.

Thật sự không những 2 nhóm người này, mà phần lớn chúng ta, đều không hiểu rõ thế nào là khuynh hữu và thế nào là khuynh tả.

Muốn tìm hiểu thêm, chúng ta nên ý thức rằng nền  chính trị đương đại chịu ảnh hưởng của 3 cuộc cách mạng lớn:

1.    Cuộc cách mạng giành độc lập của Hoa Kỳ kết thúc năm 1783 với Hòa Ước Paris công nhận nền độc lập của Hoa Kỳ. Từ đó nền dân chủ Hoa Ký qua hiến pháp lan tỏa khắp thế giới

2.    Cuộc cách mạng Pháp 1789 với quốc hội lập hiến cùng năm để quyết định vai trò của vua Louis 16 trong chế độ mới.

3.    Cuộc cách mạng Bolshevik của Lenin tại Nga năm 1917, thiết lập các chế độ CS trên thế giới.

Tuy cuộc cách mạng Pháp bị Napoleon thanh toán (1799) nhưng những tư tưởng chỉ đạo đã ảnh hưởng đến các nền dân chủ đương đại không kém cuộc cách mạng Hoa Kỳ.

Thật vậy một cách chính xác, 2 khái niệm khuynh tả và khuynh hữu trong chính trị đương đại phát xuất từ Quốc hội Lập hiến của Pháp năm 1789.

Khi tranh luận trong quốc hội này, những người muốn giữ quyền lực lớn cho vương quyền (ủng hộ chế độ quân chủ lập hiến, bảo vệ trật tự cũ) ngồi bên phải chủ tọa.

Những người muốn hạn chế hoặc xóa bỏ vương quyền (ủng hộ cộng hòa, bình đẳng, cải cách sâu rộng) thì ngồi bên trái chủ tọa.

Từ đó, hai khái niệm Right (hữu)  và Left (tả) ra đời , ban đầu chỉ là vị trí ngồi, nhưng dần trở thành ký hiệu tư tưởng chính trị.

Khuynh hữu thì thiên về:

-        Bảo vệ truyền thống

-        Ủng hộ trật tự xã hội có thứ bậc

-        Tôn trọng tôn giáo, quân đội, quyền lực trung ương

-        Ưa ổn định hơn thay đổi

-        Về kinh tế: ủng hộ sở hữu tư nhân, thị trường tự do

Khuynh tả thiên về:

-        Cấp tiến, cải cách

-        Ủng hộ bình đẳng xã hội

-        Giảm vai trò của tôn giáo trong chính trị

-        Mở rộng quyền công dân

-        Về kinh tế: can thiệp nhà nước, phúc lợi xã hội, bảo vệ người lao động

Điều trên chỉ là tổng quát. Cả nội dung tả khuynh hay hữu khuynh đều có thể thay đổi theo hoàn cảnh và thời gian.

Vì hoàn cảnh lịch sử, như đã trình bày, các khuynh hướng chính trị bảo thủ (khuynh hữu) Tây Phương thường chủ trương thiên về tư bản chủ nghĩa (nhưng không phải độc tài phát xít) và các khuynh hướng chính trị cấp tiến (khuynh tả) thường thiên về khuynh hướng xã hội chủ nghĩa (nhưng không phải độc tài cộng sản).

Sự khác biệt giữa tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa tuy phức tạp, nhưng có thể tóm lược như sau:

1. Tư bản chủ nghĩa có hậu quả tập trung tư bản vào tay một số cá nhân hay tập thể với động lực sáng tạo của cải (wealth creation).

2. Trong khi đó xã hội chủ nghĩa có hậu quả công bằng xã hội và nhu cầu tái phân phối của cải (wealth redistribution) là ưu tiên đối với họ.

Cả 2 khuynh hướng này đều được hiến pháp bảo vệ trong một nền dân chủ đa nguyên.

Các đảng phái chính trị, tùy theo chủ trương của mình, sẽ có chỗ đứng đích thực trong hàm phổ chính trị đó, cũng như những cung bậc khác nhau của những bản nhạc có chỗ đứng đích thực trong hàm phổ âm nhạc vậy.

Nền chính trị dân chủ chân chính vận hành như một bản đại hòa tấu trong đó sự tương tác, cộng sinh hài hòa là yếu tố quan trọng.

Những nốt nhạc trầm không thể loại bỏ những nốt nhạc bổng và ngược lại trong một bản đại hòa tấu. Tương tự, các khuynh hướng chính trị bảo thủ không thể loại bỏ các khuynh hướng cấp tiến hoặc ngược lại, trong một nền dân chủ chân chính.

Dĩ nhiên chúng ta có quyền khác biệt ý kiến, nhưng nên tránh các quá khích, cực đoan hay ngôn từ hoặc thái độ thù nghịch.

Khuynh tả cực đoan sẽ biến thành độc tài cộng sản và khuynh hữu cực đoan sẽ biến thành độc tài phát xít. Cả hai đều nguy hiểm cho nhân loại cả.

Các quốc gia dân chủ thật sự luôn tiến bộ vì biết dung nạp hài hòa cả 2 khuynh hướng này, trong khuông khổ một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên chân chính.