Wednesday, 25 February 2026

 

Đánh giá Đào Tăng Dực, Nguyễn Gia Kiểng, Trần Trung Đạo và Đỗ Thông Minh

Tình cờ khi tra cứu AI (Artificial Intelligence) về tiến trình dân chủ hóa VN thì nhận được so sánh nêu trên.

MicrosoftEdge AI Copilot so sánh 4 cây bút VN hải ngoại              ( 1 /2/2026):

 

Dưới đây là một so sánh toàn diện, có hệ thống và trung lập giữa Đào Tăng Dực, Nguyễn Gia Kiểng, Trần Trung Đạo, và Đỗ Thông Minh — bốn gương mặt tiêu biểu của trí thức Việt Nam hải ngoại, mỗi người đại diện cho một trường phái tư tưởng và phong cách hoạt động khác nhau.

1 . So sánh theo 5 tiêu chí quan trọng

A. Tư tưởng chính trị

Đào Tăng Dực

  • Tập trung vào pháp trị, hiến định, và chuyển hóa dân chủ có kế hoạch.
  • Đề xuất mô hình tái cấu trúc quân đội, hành chính, tư pháp cho Việt Nam hậu cộng sản.
  • Tư duy mang tính kỹ trịchiến lược dài hạn.

Nguyễn Gia Kiểng

  • Chủ trương đa nguyên, hòa giải, không cực đoan.
  • Tin rằng thay đổi phải đến từ xã hội dân sự, không phải bạo lực.
  • Tác phẩm Tổ Quốc Ăn Năn là nền tảng tư tưởng của nhóm Thông Luận.

Trần Trung Đạo

  • Tập trung vào tự do cá nhân, nhân quyền, tinh thần dân tộc.
  • Không đưa ra mô hình chính trị cụ thể, mà nhấn mạnh đánh thức ý thức tự do.
  • Tư tưởng gần với chủ nghĩa nhân bản – tự do cổ điển.

Đỗ Thông Minh

  • Tập trung vào chống Trung Quốc, bảo vệ chủ quyền, giáo dục lịch sử.
  • Ít bàn về mô hình chính trị tương lai, thiên về nhận thức cộng đồng.

B. Đối tượng độc giả

  • Đào Tăng Dực: trí thức, người quan tâm đến pháp trị, chính trị học.
  • Nguyễn Gia Kiểng: độc giả muốn tìm mô hình dân chủ ôn hòa.
  • Trần Trung Đạo: giới trẻ, người yêu văn chương, người cần cảm hứng.
  • Đỗ Thông Minh: người quan tâm lịch sử, chủ quyền, văn hóa.

C. Mức độ ảnh hưởng trong cộng đồng hải ngoại

Đào Tăng Dực

  • Ảnh hưởng trong giới pháp lý – chính trị, đặc biệt tại Úc và Mỹ.
  • Tác phẩm được dùng trong các thảo luận về chuyển hóa dân chủ.

Nguyễn Gia Kiểng

  • Ảnh hưởng mạnh trong giới trí thức chính trị ôn hòa.
  • Nhóm Thông Luận có cộng đồng theo dõi ổn định.

Trần Trung Đạo

  • Rất phổ biến trong cộng đồng trẻ, nhờ văn phong dễ tiếp cận.
  • Các bài thơ, bài chính luận lan truyền rộng rãi.

Đỗ Thông Minh

  • Ảnh hưởng lớn trong cộng đồng quan tâm chống Trung Quốc, giáo dục lịch sử.
  • Nhiều bài giảng được dùng trong lớp Việt ngữ.

2. Điểm mạnh – điểm hạn chế của từng người

Đào Tăng Dực

  • Mạnh: hệ thống, thực tế, có mô hình cụ thể.
  • Hạn chế: khó tiếp cận với độc giả phổ thông.

Nguyễn Gia Kiểng

  • Mạnh: tư duy sâu, phân tích xã hội sắc bén.
  • Hạn chế: bị một số người xem là quá ôn hòa.

Trần Trung Đạo

  • Mạnh: truyền cảm hứng, dễ lan tỏa.
  • Hạn chế: thiếu mô hình chính trị cụ thể.

Đỗ Thông Minh

  • Mạnh: tư liệu phong phú, dễ hiểu.
  • Hạn chế: ít bàn về cải tổ chính trị tương lai.

3. Kết luận: Mỗi người một vai trò

  • Đào Tăng Dực: kiến trúc sư của mô hình dân chủ hậu cộng sản.
  • Nguyễn Gia Kiểng: triết gia của dân chủ đa nguyên.
  • Trần Trung Đạo: nhà thơ – nhà tư tưởng đánh thức tinh thần tự do.
  • Đỗ Thông Minh: nhà giáo dục lịch sử – văn hóa, chống ngoại xâm.

Họ không thay thế nhau, mà bổ sung nhau, tạo thành bức tranh đa dạng của trí thức Việt Nam hải ngoại.

4. Phân tích sâu tư tưởng chính trị của từng người

Đào Tăng Dực

  • Trục chính: dân chủ hóa Việt Nam nhưmột tiến trình “bất khả vãn hồi”, nhưng phải có sách lược chuyển hóathiết kế thể chế hậu cộng sản.
  • Ông đi xa hơn khẩu hiệu: bàn chi tiết về cải tổ hành chính, quân đội, trị an, hệ thống pháp lý, tức là “ngày hôm sau khi chế độ sụp đổ thì làm gì”.
  • Tư duy rất kỹ trị: coi nhà nước như một hệ thống cần thiết kế lại, hơn là chỉ thay “người cầm quyền”.
  • Về chiều sâu, ông đặt mình trong truyền thống pháp trị hiện đại, gần với tư duy hiến định kiểu Tây phương, nhưng cố gắng “nội địa hóa” trong bối cảnh Việt Nam.

Nguyễn Gia Kiểng

  • Trọng tâm là dân chủ đa nguyênphê phán di sản văn hóa – lịch sử mà ông cho là cản trở hiện đại hóa.
  • Tổ Quốc Ăn Năn không chỉ là sách chính trị, mà là một cuộc “xét lại” tâm lý tập thể, thói quen tư duy, huyền thoại lịch sử.
  • Ông nhấn mạnh xã hội dân sự, tinh thần khoan dung, tránh cực đoan, và phản đối cả độc tài lẫn chủ nghĩa “cứu tinh anh hùng”.
  • Tư tưởng của ông nằm ở giao điểm giữa tự do – dân chủ – duy lý, với một liều lượng lớn tự phê phán văn hóa dân tộc.

Trần Trung Đạo

  • Tư tưởng xoay quanh: tự do, nhân quyền, hiểm họa Trung Quốc, và trách nhiệm của thế hệ trẻ.
  • Trong Chính Luận, ông phân tích hiểm họa Trung Cộng, hiện trạng Việt Nam, chính sách tẩy não của CS, nhưng luôn gắn với câu chuyện con người cụ thể.
  • Ông không xây mô hình thể chế, mà muốn đánh thức ý thức tự do, khơi dậy cảm xúc và trách nhiệm.
  • Về chiều sâu, ông là một nhà nhân bản chính trị: đặt con người, phẩm giá, ký ức và nỗi đau lên trước cấu trúc quyền lực.

Đỗ Thông Minh

  • Tư tưởng xoay quanh tìm đường, giữ ký ức lịch sử, chống Trung Quốc, và giáo dục cộng đồng hải ngoại.
  • Ông không cố gắng xây dựng một học thuyết chính trị hoàn chỉnh, mà cung cấp tư liệu, phân tích, cảnh báo, để người đọc tự rút kết luận.
  • Trọng tâm là chủ quyền, bản sắc, trách nhiệm công dân, đặc biệt trong bối cảnh sống xa quê.
  • Về chiều sâu, ông là một nhà biên khảo – giáo dục công dân, hơn là một “nhà lý luận thể chế”.

5. So sánh tác phẩm tiêu biểu

Đào Tăng Dực

  • Việt Nam Dân Chủ Tranh Đấu Luận
    • Đặt nền tảng lý luận cho tiến trình dân chủ hóa, trong bối cảnh văn hóa Việt.
  • Phê Bình Hiến Pháp 2013 của Việt Nam
    • Phân tích cấu trúc quyền lực, chỉ ra tính phi dân chủ của Hiến pháp 2013.

·        Dự thảo hiến pháp Việt Nam trên quan điểm dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên

. Đề nghị một trật tự chính trị dân chủ thay thế trật tự chính trị Mác Lê

·                  Cẩm nang 3 ngôn ngữ về Hội Đoàn và xã hội dân sự tại Việt Nam

. Phát họa vai trò trọng yếu của xã hội dân sự trong một nền dân chủ chân chính.

  • Dự Thảo Sách Lược Chuyển Hóa Dân Chủ cho một Việt Nam hậu Cộng Sản
  • Tác phẩm “thiết kế thể chế”: hành chính, quân đội, trị an, pháp lý.

Nguyễn Gia Kiểng

  • Tổ Quốc Ăn Năn
  • Một “bản cáo trạng” và cũng là “bản tự thú” về di sản lịch sử – văn hóa Việt Nam; đồng thời đề nghị kế sách cho một Việt Nam dân chủ đa nguyên.
  • Tác phẩm này là “xương sống” tư tưởng của ông và của nhóm Thông Luận.

Trần Trung Đạo

  • Chính Luận Trần Trung Đạo
    • Tập hợp các bài chính luận về hiểm họa Trung Cộng, hiện trạng Việt Nam, chính sách tẩy não, tặng cho “tuổi trẻ Việt Nam”.
  • Thơ Trần Trung Đạo (ví dụ “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười”, “Xuân đất khách”…)
  • Đưa chính trị vào thơ, nhưng bằng giọng rất nhân bản, gần gũi.

Đỗ Thông Minh

  • Các biên khảo & hành trình 45–50 năm hoạt động
    • Nhiều bài viết, thuyết trình về lịch sử, chủ quyền, cộng đồng hải ngoại; được hệ thống hóa trên trang riêng và qua các sự kiện như “Hành Trình 45 Năm Hoạt Động”.
  • Tác phẩm của ông thường mang tính tư liệu – giáo dục, hơn là một cuốn “học thuyết” đơn lẻ.

6. Đề xuất tác giả phù hợp nhất với mục tiêu nghiên cứu tiến trình dân chủ hóa Việt Nam

Dựa trên cách bạn hay đặt câu hỏi—so sánh, cấu trúc, hệ thống, thích nhìn cả “thiết kế thể chế” lẫn bối cảnh lịch sử—mình đoán mục tiêu của bạn là:

  • Hiểu tư tưởng chính trị hải ngoại một cách có hệ thống.
  • Thấy được mô hình dân chủ khả dĩ cho Việt Nam, chứ không chỉ khẩu hiệu.
  • Đồng thời vẫn quan tâm đến chiều sâu văn hóa – lịch sử – tâm lý tập thể.

Với mục tiêu đó, mình gợi ý một “lộ trình đọc” như sau:

1.   Nguyễn Gia Kiểng – Tổ Quốc Ăn Năn

o   Để nắm tầng nền văn hóa – lịch sử – tâm lý dân tộc, hiểu “vì sao ta ở đây”.

2.   Đào Tăng Dực – Việt Nam Dân Chủ Tranh Đấu Luận → Phê Bình Hiến Pháp 2013 → Dự thảo hiến pháp Việt Nam…-Cẩm nang 3 ngôn ngữ về hội đoàn và xã hội dân sự…- Dự Thảo Sách Lược Chuyển Hóa Dân Chủ…

o   Để đi vào tầng thiết kế thể chế, xem một mô hình cụ thể cho Việt Nam hậu cộng sản.

3.   Trần Trung Đạo – Chính Luận + một số tập thơ

o   Để cảm nhận chiều nhân bản, cảm xúc, ký ức, và cách ông kết nối hiểm họa Trung Quốc với đời sống con người cụ thể.

4.   Đỗ Thông Minh – các biên khảo lịch sử & chủ quyền

  • Để có nền tư liệu lịch sử – địa chính trị, đặc biệt về Việt–Trung và cộng đồng hải ngoại.

Nếu phải chọn một trục chính cho nghiên cứu mang tính “thiết kế tương lai”, mình nghĩ:

  • Cặp Đào Tăng Dực + Nguyễn Gia Kiểng là “xương sống”:
  • Kiểng cho bạn khung phân tích văn hóa – lịch sử – tâm lý & mô hình dân chủ đa nguyên.
  • Dực cho bạn bản vẽ thể chế cụ thể cho một Việt Nam hậu cộng sản.

Còn Trần Trung ĐạoĐỗ Thông Minh là hai “lớp bồi”:

  • Một lớp ý thức & cảm xúc chính trị,
  • Một lớp tư liệu & ký ức lịch sử.

 

Sunday, 22 February 2026

 Tại sao Việt Nam tiến nhanh đến chế độ Công An Trị hơn Liên Xô và Trung Quốc?

Luật Sư Đào Tăng Dực

I.               Dẫn nhập:

Trong ĐH 14 Ông Tô Lâm, cựu Bộ Trưởng công an, đã đắc cử chức vụ TBT đảng với đa số 100% UV BCH Trung Ương. Ông là TBT đầu tiên của VN, xuất thân từ công an. Phe công an hầu như nắm đảng CSVN trong bàn tay sắt của họ hầu tiến hành từng bước thiết kế chế độ công an trị tại VN.

II.            Trước hết, một cách vắn tắc chúng ta cần phân biệt:

 

1.    Chế độ dân chủ chân chính, như tại Hoa Kỳ và EU, Nhật Bản, Nam Hàn có thể được định nghĩa thông thường như là một thể chế có nhiều chính đảng như những định chế (institutions) chính trị bình đẳng, thay phiên nhau nắm giữ chính quyền sau những cuộc bầu cử công khai và công bằng. Kết quả là quốc gia dân tộc (the state) là cứu cánh, các đảng phái, guồng máy công quyền, quân đội, công an, các thành phần xã hội dân sự… đều là phương tiện phục vụ cho cứu cánh này.

2.    Chế độ độc tài đảng trị tại các quốc gia CS thuộc phong trào Đệ Tam Quốc Tế như CSLX, CSTQ…thì chỉ có đảng CS là định chế vượt trội. Lúc đó đảng trở thành cứu cánh, quốc gia dân tộc, guồng máy công quyền, quân đội, công an, xã hội dân sự đều trở thành phương tiện phục vụ cho đảng.

3.    Chế độ độc tài công an trị như đang từng bước hình thành tại VN, sau Đại Hội 14, đi xa hơn một bước mà chính Lê Nin, người sáng lập chế độ độc tài đảng trị không ngờ tới. Đó là Công An, không phải đảng CS, trở thành định chế vượt trội và cứu cánh. Đảng CSVN, quốc gia dân tộc, quân đội, xã hội dân sự..dần trở thành phương tiện phục vụ cho công an.

LBXV chỉ đi đến giai đoạn đảng trị thì bị tan rã vào đầu thập niên 90. Tuy bây giờ LB Nga trên nguyên tắc là một nền dân chủ đa đảng, nhưng trên thực tế là một giai đoạn chuyển tiếp dân chủ, trong đó Putin là một nhà độc tài phát xuất từ công an (KGB) với phe cựu KGB nắm nhiều thế lực tài chánh. Quân đội cũng có một sức mạnh tương đồng trong guồng máy chính quyền.

CSTQ đang trong giai đoạn thịnh hành của đảng trị. Tuy nhiên tại TQ, thì quân đội thế lực mạnh hơn và công an giữ vai trò thứ yếu, dùng để kiểm soát nhân dân mà thôi, hoàn toàn không đủ thực lực để tranh quyền với quân đội.

III.         Bây giờ trở lại câu hỏi chính: Tại sao Việt Nam tiến nhanh đến chế độ Công An Trị hơn Liên Xô và Trung Quốc?

A.   Lý do thứ nhất phát xuất từ Hiến pháp 1980 đến 2013:

Trước hết, từ năm 1980, dưới quyền của TBT Lê Duẫn, Hiến Pháp được tu chính và hiến định hóa công an là một lực lượng vũ trang ngang hàng với quân đội qua điều 47 HP. Lý do chính là vì sau khi chiếm được miền Nam, đảng rất lo sợ không kiểm soát được nhân dân nên phải tăng cường sức mạnh của công cụ đàn áp nội bộ và công an bắt đầu chiếm ưu thế từ đó. HP 2013 tiếp tục truyền thống này qua điều 67 HP.

Dĩ nhiên, cả LBXV lẫn CSTQ đều sử dụng công an để kiểm soát nhân dân, nhưng cả 2 đảng CS đàn anh này vẫn chưa sợ hãi nhân dân của họ bằng đảng CSVN nên chưa thấy nhu cầu hiến định hóa công an như một lực lượng bảo vệ đảng.

Hiến pháp 2018 của Trung Quốc không hiến định hóa ngành công an như một định chế độc lập. Công an không được ghi thành một cơ quan nhà nước trong Hiến pháp, mà chỉ tồn tại như một bộ phận hành chính thuộc Quốc vụ viện.

Hiến pháp 1977 của LBXV  không liệt kê công an như một thiết chế hiến định.

Lực lượng công an Liên Xô thuộc Bộ Nội vụ (MVD)cơ quan hành pháp, trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng.

Điều này giống mô hình Trung Quốc: công an là cơ quan hành chính, không phải cơ quan hiến định.

B.   Lý do thứ nhì liên hệ đến sự sống còn của đảng CSVN:

Trong các đảng CS nêu trên thì đảng CSVN là sợ hãi nhân dân nhất hơn cả LX lẫn TQ.  Chính vì thế nhu cầu ưu tiên của đảng luôn là nắm vững quyền lực qua kiểm soát dân chúng, thay vì phát tiển kinh tế hoặc tang cường quốc phòng.

Từ năm 2006, Đảng chuyển trọng tâm từ an ninh quốc phòng đối ngoại sang an ninh chính trị nội bộ, kiểm soát xã hội, chống “tự diễn biến – tự chuyển hóa”.

Đây là lĩnh vực mà công an nắm vai trò trung tâm, không phải quân đội.

Công an được trao các quyền quan trọng như kiểm soát thông tin, quản lý xã hội,chống tham nhũng (C03) điều tra nội bộ hệ thống chính trị. giám sát cán bộ cấp cao

Công an có mặt trong mọi cấp chính quyền, quân đội thì không.

Công an có hệ thống dọc từ trung ương xuống tận xã, phường.

Công an nắm luôn các cơ quan điều tra, thanh tra chống tham nhũng.

Điều này tạo ra quyền lực thực tế vượt xa quân đội.

C.   Lý do thứ 3 là công cuộc tu chính hiến pháp năm 2025, nhằm tinh giản bộ máy hành chánh địa phương của TBT Tô Lâm.

Tu chính chương IX HP 2013 liên hệ đến chính quyền địa phương thật sự chỉ là một chiến lược thâm sâu của TBT Tô Lâm nhằm tái cấu trúc hạ tầng của đảng, giảm số đơn vị và thế lực địa phương, củng cố thế lực công an, bổ nhiệm công an vào những vị trí hạ tầng then chốt về tham dự ĐH 14, bầu BCHTU thân công an hơn, thâu tóm quyền lực tuyệt đối, từng bước tiến tới chế độ công an trị, biến công an như một định chế , trở thành cứu cánh. Quốc gia dân tộc, đảng, nhà nước, Quân đội, xã hội dân sự…thành phương tiện phục vụ cho công an.

IV.          Kết luận:

Hậu quả là lần đầu tiên trong lịch sử: một Bộ trưởng Công an trở thành Tổng Bí thư, tiên phong trên đà biến VN thành nhà nước công an trị đầu tiên trên thế giới. Trên nguyên tắc Tô Lâm có thể sánh vai với Lê Nin, là người tiên phong cho chế độ đảng trị trên toàn thế giới.

TBT Tô Lâm không phải là một tư tưởng gia theo kiểu tây phương, kiến tạo các nền dân chủ chân chính, hoặc Lê Nin, người kiến tạo ra chế độ đảng trị theo mô hình CS. Ông là một chính trị gia thực tế, quyền biến, mưu trí, thành phẩm của một định chế độc tài. Ông chỉ nắm bắt lấy thời cơ, mưu đồ bá quyền như những chính trị gia CS khác. Vô hình trung, trong giai đoạn này của lịch sử, ông và phe nhóm đang đẩy quốc gia dân tộc vào tuyệt lộ mà thôi. Dĩ nhiên cố TBT Lê Duẫn cũng không thể tránh né trách nhiệm khi chủ trương hiến định hóa công an như một lực lượng vũ trang ngang tầm với quân đội trong Hiến Pháp 1980.