Bẫy
sập cho tư bản quốc tế tại Trung Quốc và trong tương lai tại Việt Nam
LS Đào Tăng Dực
Sau khi được bầu làm Chủ Tịch Nước, TBT Tô Lâm dõng
dạt đưa ra chỉ tiêu phát triển kinh tế 10% mỗi năm. Dĩ nhiên đây là một khẩu hiệu
nặng tính tuyên truyền, hơn là sách lược kinh tế được hoạch định nghiêm chỉnh.
CSVN là một đảng CSTQ tí hon, từ khi mới thành lập
đưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đến thời của Tô Lâm. Nền kinh tế VN cũng là
phiên bản mô hình TQ, tuy sinh sau đẻ muộn vì giới lãnh đạo CSVN kém trí tuệ
hơn giới lãnh đạo CSTQ. Hệ lụy tự nhiên là Việt Nam kém phát triển hơn TQ nhiều
thập niên và GDP đầu người chỉ bằng khoảng
1/3 TQ.
Những bước đi chiến lược của CSTQ về chính trị và
kinh tế lần lượt được CSVN học hỏi và sao chép không hề có sáng kiến mới mẻ, từ
kỹ thuật kiểm soát nhân dân, hộ khẩu, đấu tố, đến gia nhập WTO, giới hạn kinh tế
tư nhân và nhất là phát triển kinh tế qua xuất cảng, dựa vào nguồn vốn FDI từ
tư bản quốc tế.
Nhiều tư bản quốc tế đã bị CSVN lừa gạt, chuyển đầu
tư FDI vào VN, như đã từng đầu tư vào TQ, theo sách lược China Plus One, vì họ không
muốn lệ thuộc quá nhiều vào một cường quốc độc tài như CSTQ.
Tuy
nhiên vào đầu tháng 4 năm 2026, thảm họa bất ngờ giáng lên đầu giới tư bản quốc
tế đã quá ngây thơ tại TQ và cũng là một tiếng chuông cảnh tỉnh cho họ nếu tiếp
tục đầu tư tại VN.
Đó là Sắc Lệnh số 834 về An ninh Chuỗi Công nghiệp
và Cung ứng của Quốc Vụ Viện CSTQ.
Đây là bẫy sập bất ngờ với mục tiêu chiếm đoạt đầu
tư của ngoại quốc bằng cách loại bỏ lãnh đạo nước ngoài, thay thế bằng lãnh đạo
TQ và từng bước chiếm đoạt doanh nghiệp lẫn kỹ thuật cao của tư bản quốc tế. Hậu
quả là chính sách đầu tư China Plus One của tư bản tây phương có nguy cơ bị vô
hiệu hóa.
Lệnh 834 gồm 18 điều nhưng chỉ một số điều khoản có
tác động mạnh nhất đến doanh nghiệp. Điều 4 mở rộng khái niệm “rủi ro an ninh
chuỗi cung ứng” sang mọi thay đổi về nhà cung cấp, địa điểm sản xuất, luồng dữ
liệu và cấu trúc sở hữu.
Nhờ
phạm vi rộng này, nhà nước có thể can thiệp trực tiếp vào các quyết định vốn
thuần túy kinh doanh, đồng thời nâng các hoạt động thương mại lên mức “an ninh
quốc gia” với chế tài hình sự nghiêm khắc.
Điều 9 trao quyền điều tra sâu rộng cho cơ quan nhà
nước, bao gồm yêu cầu tài liệu, dữ liệu, hồ sơ giao dịch, phỏng vấn nhân viên
và kiểm tra hệ thống công nghệ thông tin (CNTT). Đây là điều khoản gây lo ngại nhất vì cho phép
tiếp cận trực tiếp vào hoạt động nội bộ doanh nghiệp.
Điều 13 cho phép điều tra hành vi “thu thập thông
tin chuỗi cung ứng trái phép”, nhưng không định nghĩa rõ ràng, tạo dư địa để kiểm
tra thiết bị, email và dữ liệu của nhà cung cấp hoặc nhân viên nước ngoài.
Điều 14–15 quy định các biện pháp đối phó như hạn chế
giao dịch, đầu tư, dịch vụ, đưa vào danh sách kiểm soát và yêu cầu báo cáo định
kỳ. Điều 16 áp đặt nghĩa vụ tuân thủ lên cả tổ chức và cá nhân; nếu bị coi là
“không tuân thủ”, cá nhân có thể bị hạn chế xuất cảnh, cư trú hoặc xử phạt.
Doanh nghiệp nước ngoài đặc biệt lo ngại vì năm lý
do: ngôn ngữ pháp lý quá rộng và mơ hồ; Trung Quốc có tiền lệ áp dụng “exit
ban” trong các vụ kinh tế;
Điều 9 và 13 cho phép điều tra trực tiếp nhân viên
và dữ liệu nội bộ;
Điều 16 mở đường cho biện pháp đối với cá nhân; và
toàn bộ khung pháp lý tạo ra rủi ro tùy nghi cao, khiến doanh nghiệp không biết
khi nào hành vi bình thường có thể bị xem là “rủi ro” hoặc “không tuân thủ”, dẫn
đến nguy cơ lãnh đạo và nhân viên nước ngoài bị giữ lại tại Trung Quốc.
Đó là chưa kể những kế hoạch của doanh nghiệp nhằm
chuyển chuỗi cung ứng ra một đệ tam quốc gia, có xác xuất bi liệt kê như một
tác động vi phạm an ninh chuỗi cung ứng của TQ.
Nên nhớ Quốc vụ viện là cơ quan hành pháp
(chính phủ), tương đương Nội các. Quốc hội của Trung Quốc là Đại
hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc (Nhân Đại).
Đây không phải là một sắc luật của quốc hội, mà chỉ
là một sắc lệnh của hành pháp. Không cần ồn ào thảo luận để các doanh nghiệp cảnh
giác và kịp thời phản ứng, mà là một sắc lệnh của hành pháp nhanh chóng, bất ngờ,
ám dụng lập tức nên không doanh nghiệp nào kịp trở tay.
Đây là một đòn sấm sét chí tử, đánh vào tất cả mọi
doanh nghiệp, nhưng thật sự tập chú vào những doanh nghiệp có tầm vóc quốc tế
và công nghệ cao, đang đầu tư tại TQ.
Khi duyệt xét danh sách các Quốc gia đầu tư hằng trăm
tỷ Mỹ Kim tại TQ, chúng ta thấy những quốc gia sau đây: Đức, Singapore, Hà Lan,
Nhật Bản, Thụy Sĩ, Anh, Mỹ, Nam Hàn và nhiều tập đoàn tài chánh quốc tế.
Tuy sắc lệnh không minh thị dùng từ “tạm giam” nhưng
sự kết hợp giữa lệnh cấm xuất cảnh,thẩm
vấn bắt buộc,thu giữ tài liệu và khung pháp lý về “an ninh quốc gia”khiến cá
nhân có thể bị giữ lại trong thời gian dài nếu công ty bị điều tra.
CSVN là một phiên bản tí hon của đàn anh CSTQ. Cả
chính phủ lẫn quốc hội đề là những cánh tay nối dài của các đảng CS liên hệ. Việc
đảng phớt lờ quốc hội và ra lệnh cho chính phủ đưa ra những sắc lệnh bất ngờ,
có hiệu lực lập tức, không có tam quyền phân lập nên không một định chế nào có
thể thách thức tính pháp lý của sắc lệnh, không những áp dụng tại TQ mà cũng
thường xuyên áp dụng tại Việt Nam.
Trong
tương lai, liệu điều này sẽ xảy ra tại VN hay không?
Câu trả lời hầu như chắc chắn sẽ xảy ra.
Lý do tại sao?
Sách lược mới của tư bản quốc tế là “China plus One”đang
làm suy yếu nền kinh tế CSTQ và uy tín của đảng. Một khi quyền lợi của đảng bị
suy giảm thì đảng chọn con đường “ thà ta phụ người hơn là người phụ ta”. Chúng
ta đã chứng kiến điều này khi CSTQ hủy diệt con bò sữa Hồng Kong không thương
tiếc, hoặc hủy diệt nhiều nhà tư bản tỷ
phú nội địa và doanh nghiệp của họ, để duy trì độc quyền của đảng. CSVN đã và sẽ
luôn sẵn sàng tương tự. Sự suy tàn của Hồng
Kong như một trung tâm tài chánh hàng đầu thế giới và sự lụn tàn của nền điện ảnh
Hồng Kong lẫn Hoa Lục vì nhu cầu “an ninh quốc gia” của CSTQ cũng là những ví dụ
điển hình.
CSTQ không những muốn bảo vệ quyền lực của đảng mà còn từng bước khống
chế toàn diện và chiếm đoạt tài sản của tư bản quốc tế. Sắc lệnh mới này, có tiềm
năng loại bỏ giai cấp lãnh đạo các doanh nghiệp ngoại quốc vì những người nước
ngoài rất sợ hãi ngục tù TQ, sẽ đưa đến những hệ lụy như sau:
Giai đoạn đầu doanh nghiệp quốc tế sẽ phải cho người
TQ đảm nhiệm
Sau đó từng bước rút nhân viên nước ngoài, giao lại
cho người TQ.
CSTQ tin rằng sau nhiều thập niên học hỏi, họ có đủ
khả năng thay thế, mặc dầu có thể không giỏi bằng, nhưng từ đó, có thể chiếm đoạt
không phí một đồng tài sản, cơ sở, sự hiểu biết và khả năng chuyên môn của tư bản
quốc tế trọn vẹn.
Sắc Lệnh số 834 về An ninh Chuỗi Công nghiệp và Cung
ứng của CSTQ là một nhát chém bất ngờ vào đầu tư bản quốc tế tại TQ và là một
tiếng chuông vang dội, cảnh tỉnh họ nếu tiếp tục đổ FDI vào VN.
Nếu
tư bản quốc tế ý thức nghiêm chỉnh sau tiếng chuông cảnh tỉnh này, thì giấc mơ
10% phát triển GDP của Tô Lâm, vốn tự nó đã là hoang tưởng, càng trở nên lố bịch
hơn.