Friday, 3 April 2026

 

Hoa Kỳ, NATO, Liên Hiệp Âu Châu và Eo Biển Hormuz

LS Đào Tăng Dực

Ngay trong nhiệm kỳ đầu tiên, TT Trump đã bày tỏ nhiều bất bình với sự đóng góp của những đồng minh của Hoa Kỳ trong những liên minh quân sự từ Âu sang Á. Ông cho rằng Hoa Kỳ đã chi phí quá nhiều để bảo vệ cho các đồng minh và ngược lại sự đóng góp của họ quá ít oi.

Nhất là đối với các quốc gia trong khối NATO tức Liên Minh Bắc Đại Tây Dương bao gồm Canada, Anh Quốc, Turkey và phần lớn các quốc gia Tây Âu.

Ông đã nêu ra nhiều lần khả năng Hoa Kỳ rút khỏi NATO và gần đây nhất, khi Hoa Kỳ và Do Thái oanh tạc Iran, quốc gia này đóng cữa Eo Biển Hormuz, thì NATO từ chối không tham chiến. Ý định muốn Hoa Kỳ rút khỏi NATO càng trở nên mãnh liệt hơn.

Dĩ nhiên Hoa Kỳ là một nền dân chủ theo tổng thống chế và có tam quyền phân lập. Hành pháp, lập pháp và tư pháp đều có giới hạn hiến định của mình. Khác với các nền dân chủ theo quốc hội chế nơi quan điểm “tính tối cao của quốc hội” ( parliamentary supremacy) ngự trị.

 

I.               Câu hỏi đặt ra là tổng thống Hoa Kỳ, tức hành pháp, có thể rút quốc gia ra khỏi NATO hay không?

Câu trả lời là không vì vào năm 2023, một sắc luật được thông qua và trở thành một phần của sắc luật National Defense Authorization Act 2024 (NDAA) quy định muốn rút cần phải:

1. Hoặc 2/3 Thượng Viện phê chuẩn

2. Hoặc một sắc luật riêng của Quốc Hội cho phép

Trong hoàn cảnh chính trị hiện tại, cả 2 điều kiện này không thực tế.

Tuy nhiên điều này không có nghĩa là hành pháp hoàn toàn bó tay.

TT Trump có thể không chính thức rút khỏi NATO nhưng:

-        Không tham dự các phiên họp

-        Không đóng góp tài chánh

-        Giảm số quân đồn trú tại Âu Châu

-        Không tham gia vào các kế hoạch liên hệ đến điều 5 của Hiệp Ước NATO

-        Phủ quyết các kế hoạch (initiatives) của NATO

Có nghĩa là TT Trump hoàn toàn vô hiệu hóa vai trò của Hoa Kỳ trong NATO.

Dĩ nhiên hành động này chỉ có hiệu lực trong phần còn lại của nhiệm kỳ. Vị TT tiếp theo sẽ có sách lược khác và Hoa Kỳ có thể sẽ phục hoạt vai trò trong NATO trở lại dễ dàng.

Trong một nền dân chủ theo quốc hội chế, không có tam quyền phân lập, Thủ tướng, qua đảng cầm quyền nếu nắm đa số trong quốc hội, thông thường sẽ rộng quyền hơn  là tổng thống Hoa Kỳ. Chính vì thế, các quốc gia độc tài cộng sản đều theo quốc hội chế.

 

II.            Câu hỏi kế tiếp là NATO không có Hoa Kỳ có rã đám hay bất lực trước LB Nga hay không?

Câu trả lời là không.

Mặc dầu TT LB Nga Putin sẽ rất vui mừng vì một chiến thắng địa chính trị lớn, nhưng NATO vẫn là một sức mạnh đáng gờm.

Trước hết, ngay cả nếu chiếc dù nguyên tử của Hoa Kỳ không còn bảo vệ nữa, thì Anh Quốc và Pháp vẫn là 2 cường quốc nguyên tử của NATO. Mỗi quốc gia có khoảng 300 đầu đạn hạt nhân trong khi LB Nga có khoảng 6000. Nghe thì cán cân quá chênh lệch nhưng sự thật thì nhân loại chỉ cần 100 đầu đạn nguyên tử là đã tận diệt rồi. Số lượng còn dư thừa chỉ có giá trị tâm lý mà thôi.

Thêm vào đó khi so sánh LB Nga và NATO (trừ Hoa Kỳ) thì dân số Nga là 146 triệu, NATO 600 triệu, GDP LB Nga là $2 trillions còn NATO là $20 trillions, Chi phí quốc phòng LB Nga là $146 tỷ còn NATO là $457 tỷ. Trong trường hợp chiến tranh, tiềm năng quân sự của NATO sẽ vượt trội hơn nữa. Các con số trên dựa vào thống kê 2024. Nhiều quốc gia Tây Âu đã tăng ngân sách quốc phòng đáng kể sau năm 2024 vì cuộc chiến tại Ukraine.

LB Nga chỉ có một hàng không mẫu hạm không khả năng tác chiến, còn Anh Quốc có 2 và Pháp có một. Cả 3 HKMH này đều tối tân và trang bị hiện đại hơn HKMH của Nga.

Nếu xung đột có xảy ra, dù không có sự tham dự của Hoa Kỳ, NATO vẫn đủ sức đối phó và đánh bại LB Nga.

 

III.         Tại sao các nước trong NATO từ chối không tham chiến với Hoa Kỳ tại Iran?

Hầu như các quốc gia trong khối và các quốc gia Á Châu đều lệ thuộc vào dầu hỏa qua Eo Biển Hormuz nhiều hơn Hoa Kỳ. Tại sao họ không chịu tham chiến và chỉ hứa sẽ tham gia kiểm soát sau khi cuộc chiến chấm dứt mà thôi?

Các biện minh họ nêu ra gồm:

1.    Đây là cuộc chiến của HK và Do Thái mà họ không hề được tham khảo trước.

Biện minh này không đúng hoàn toàn. Thực sự ngoài Do Thái ra, HK còn bị áp lực từ chính các quốc Trung Đông khác như Saudi Arabia, UAE, Kuwait .. vì Iran theo hệ phái Shi’a của Hồi Giáo và họ đa số theo hệ phái Sunni. Hai phái này như nước với lửa và quyết chiến đến cùng.

2.    Họ có những nhu cầu quốc phòng trước mắt và không đủ khí tài để sử dụng trong một cuộc chiến quy mô lớn như tại Iran.

 

Lý do thật sự hoàn toàn khác:

1.    TT Trump đã quá mạnh tay áp đặt thuế lên cả đồng minh Âu Châu lẫn các đồng minh khác mà không phân biệt các quốc gia độc tài.Tạo phản cảm trong quần chúng tại các quốc gia dân chủ này.

2.    Các cường quốc Âu châu đều là những cựu quốc gia thực dân và có lượng di dân rất lớn từ các cưu thuộc địa. Những di dân này, sau khi có quốc tịch, có quyền bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử dân chủ. Rất nhiều di dân cựu thuộc địa này theo Hồi Giáo và chống Do Thái.

3.    Họ có chiếc dù nguyên tử của Anh và Pháp. Pháp đang dự tính phát triển lượng bom nguyên tử và đưa sang các quốc gia khác, nhất là Đức để xây dựng một hàng rào nguyên tử cho Âu Châu. Đức dự tính khai triển các chiến đấu cơ có khả năng sử dụng bom nguyên tử của Pháp. Anh Quốc còn triển khai thêm lực lượng tàu ngầm nguyên tử tại Bắc Âu ngay ngưỡng cữa của LB Nga.

4.    Trong tương lai, các quốc gia lớn và tuyến đầu như Đức và Ba Lan có khả năng phát triển vũ khí nguyên tử cho chính mình nữa và họ có đủ trình độ khoa học kỹ thuật để nhanh chóng thực hiện.

 

IV.          Âu Châu và các quốc gia khác có bó tay trước tình trạng Eo Biển Hormuz hay không?

 

Tuy nhiên các quốc gia Tây Âu vẫn bị áp lực từ một số quần chúng ủng hộ cho cuộc chiến hoặc muốn chính phủ can thiệp để mở cữa Eo Biển Hormuz hầu cứu vãn nền kinh tế.

Thêm vào đó họ vẫn muốn chứng tỏ với TT Trump rằng, tuy không trực tiếp tham chiến, nhưng họ vẫn cố gắng đóng góp tích cực vào tiến trình mở cữa Eo Biển này. Dù sao Trump cũng là TT của Hoa Kỳ, siêu cường vô đối của thế giới.

Chính vì thế ngày 2 tháng 4 vừa qua, Anh Quốc tổ chức họp cấp ngoại trưởng các quốc gia trên thế giới. Mục đích là chứng minh rằng họ vẫn chống Iran nhưng muốn giải quyết vấn đề Eo Biển Hormuz một cách ôn hòa, tránh bạo lực, mà không loại trừ khả năng can thiệp quân sự như biện pháp cuối cùng.

Các quốc tham dự gồm khoảng 35- 40 nước gồm Anh, Pháp, Đức, Ý, Hòa Lan, các quốc gia Bắc Âu và các quốc gia Baltic (Âu Châu); Nhật, Úc, Nam Hàn, Ấn (Á Châu Thái Bình Dương); UAE, Bahrain, Panama, Nigeria (Trung Đông và vùng Vịnh); Canada (Bắc Mỹ); Hoa Kỳ không tham dự.

Các quốc gia này dự tính có kế hoạch giải quyết khủng hoảng này bằng những phương tiện ngoại giao, kinh tế, chính trị kể luôn cả quân sự khi cần thiết.

Cho đến bây giờ thì qua những thương thuyết và tiếp xúc riêng, Iran đã cho phép một tàu bè số quốc gia “không thù nghịch” như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Oman, Nhật Bản và Pháp được quyền đi qua eo biển này. Có thể đây là một chiến thuật của Iran nhằm chia rẽ các đồng minh của Hoa Kỳ.

Hà Nội đã tiếp xúc và yêu cầu Iran cho phép. Iran đang duyệt xét  yêu cầu này.

Dĩ nhiên tình hình có thể biến chuyển trong tương lai.




Sunday, 29 March 2026

 Tổng bí thư Tô Lâm và TBT Kim Jung Un đã chúc mừng nhau hay chưa?

LS Đào Tăng Dực

I.               Hai cuộc bầu cử Quốc Hội cùng ngày:

Ngày 15 tháng 3 vừa qua, có một sự trùng hợp mà giới quan sát viên quốc tế ít chú ý. Đó là bầu cử quốc hội diễn ra cùng một lúc tại 2 quốc gia cộng sản. Đó là Việt Nam và Triều Tiên.

Kết quả hoàn toàn tương đồng và không ngoài dự đoán là đảng CSVN chiếm được  482/500 ghế ( tức 96,47%),Ứng viên độc lập: 18 ghế,  Tỷ lệ cử tri đi bầu: 99,7% .

Đảng Lao Động Triều Tiên chiếm được 99,93% cử tri bỏ phiếu ủng hộ ứng viên do Đảng Lao Động và các tổ chức liên minh đề cử. Đảng chiếm toàn bộ 687/687 ghế và Tỷ lệ cử tri đi bầu là 99,99% .

TT Putin của LB Nga đã chính thức gửi điện mừng tới Kim Jong Un sau bầu cử Triều Tiên, không biết Putin có chúc mừng TBT Tô Lâm hay chưa? Cũng không có thông tin chính thức rằng TBT Tô Lâm của đảng CSVN và TBT Kim Jung Un của đảng Lao Động Triều Tiên, đã có chúc mừng nhau về 2 cuộc chiến thắng “vang dội và vẻ vang” của 2 đảng CS anh em này hay chưa?

Có thể là chưa  hoặc một cách kín đáo hoặc không bao giờ vì bầu cử theo kiểu này là một niềm quốc nhục lớn lao. Có thể vì Putin biết rằng chỉ có Kim Jung Un của Triều Tiên là đủ mặt dày và độc tài để hoan hỉ chấp nhận lời chúc mừng như thế.

II.            Vai trò hiến định của các Mặt Trận tại Việt Nam , Triều Tiên và Lào:

Sở dĩ 2 chế độ độc tài này đạt được thắng lợi bầu cử lớn lao ngoài sức tưởng tượng so với các quốc gia dân chủ chân chính là nhờ phần lớn vào một định chế gọi là Mặt Trận Tổ Quốc (MTTQ) của VN hay một cơ chế tương tự như Mặt Trận Dân Chủ hầu Thống Nhất Tổ Quốc của Triều Tiên.

Như chúng ta đều biết Điều 9 Hiến Pháp 2013 của Việt Nam quy định MTTQVN tham gia bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân,  giới thiệu, hiệp thương, lựa chọn và “thống nhất danh sách” ứng cử viên.

Các chế độ toàn trị CS thường có các Mặt Trận hoặc cơ chế tương tự như CSVN, CS Triều Tiên, CSTQ, CS Lào, CS LX, CS Cuba  để sắp xếp hoặc ảnh hưởng các cuộc bầu cử, nhưng VN và Triều Tiên là giống nhau nhiều nhất.

CSTQ có Mặt Trận dưới danh xưng là  Ban Công tác Mặt trận Thống nhất. Tuy nhiên chức năng hơi khác MTTQ của VN và Triều Tiên. Cơ chế này không trực tiếp lập danh sách ứng viên như Việt Nam. Tuy nhiên lại kiểm soát toàn bộ xã hội dân sự, tôn giáo, dân tộc, doanh nhân, và các “đảng vệ tinh”. Danh sách ứng viên do đảng CSTQ phê duyệt qua hệ thống chính trị và xã hội do Mặt Trận Thống Nhất này kiểm soát.

Tại Lào thì đảng CS tức đảng Nhân Dân Cách Mạng Lào chọn ứng viên.

Và Mặt trận Lào Xây dựng Đất nước  Lào là cơ chế Tổ chức hiệp thương, lọc hồ sơ và công bố danh sách cuối cùng. Tức là còn độc tài hơn một cấp tức MT  không có quyền độc lập, mà chỉ thực hiện danh sách đã được Đảng duyệt.

Tại Cuba, đảng CS Cuba thành lập những tổ chức ngoại vi như Ủy ban Bảo vệ Cách mạng là tổ chức lớn nhất, có mặt ở mọi khu dân cư, Liên đoàn Phụ nữ Cuba, Hiệp hội Nông dân nhỏ,  Liên đoàn Thanh niên Cộng sản. Sau đó thành lập một Ủy Ban Ứng Cử bao gồm các ngoại vi này và Ủy Ban này có quyền lập danh sách ứng viên vào các hội đồng nhân dân và quốc hội.

III.         Nguồn gốc thật sự của “Mặt Trận Tổ Quốc” là từ đâu?

 

Một cách vắn tắc, MTTQ của VN xuất phát từ CS LX và CSTQ. Trước hết nguyên thủy từ LX. Sau đó Mao Trạch Đông chỉnh sửa cho phù hợp với hoàn cảnh chính trị TQ. Sau đó Hồ Chí Minh copy lại mô hình CSTQ để áp dụng cho CSVN. 

Khái niệm “Mặt Trận” xuất phát từ phong trào Quốc tế Cộng sản (Comintern) là một sáng kiến của Trùm CS Lê Nin.

Từ thập niên 1920, Comintern đưa ra chiến lược United Front:

Với mục tiêu tạo vỏ bọc đa nguyên, hợp thức hóa sự lãnh đạo của Đảng, kiểm soát xã hội thông qua các tổ chức “ngoài Đảng” nhưng phụ thuộc Đảng

Khi Mao Trạch Đông du nhập mô hình MT vào TQ năm 1935 thì nâng cấp MT trở thành là một trong ba vũ khí của cách mạng:

1.    Đảng

2.    Quân đội

3.    Mặt trận

Từ các năm 1930 đến 1950: Việt Minh dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh được tổ chức theo mô hình Mặt trận của Trung Quốc và theo dòng lịch sử biến thành MTTQ hôm nay.

Trong các quốc gia CS nêu trên, chỉ có các đảng CSTQ và đàn em thân thiết như VN, Triều Tiên và Lào là hiến định hóa MT hoặc các cơ chế tương tự. LX và Cuba thì không.

Nếu TBT Tô Lâm vẫn chưa chúc mừng người đồng nhiệm và đồng chí của mình là TBT đảng, kiêm chủ tịch nước, kiêm tổng tư lệnh quân lực Triều Tiên thì đây là một thiếu sót trí mạng, liên hệ đến tồn vong của đất nước, cần phải chỉnh sửa ngay. Nếu không. đồng chí Kim , trong cơn thịnh nộ, có thể ra lệnh chĩa mũi dùi tên lửa tầm xa gắn bom nguyên tử vào dinh thự của TBT Tô Lâm tại Trung Tâm Ba Đình, làm vạ lây cả dân tộc VN đó.




Sunday, 15 March 2026

Tính vị kỷ siêu việt của chế độ độc tài CSVN.

LS Đào Tăng Dực

Dẫn nhập:

Mô hình chính trị Mác- Lê là một trong những hình thức quản trị quốc gia thoái hóa nhất  của nhân loại.

Lịch sử phát triển kinh tế và xã hội đương đại chứng minh rằng, một quốc gia chỉ cần không bị cộng sản cai trị, thì năng lưc phát triển vượt trội so với những quốc gia cùng văn hóa, chiều dài lịch sử và bàn tay khối óc tương đồng. Chỉ cần so sánh CSTQ với Đài Loan, CS Bắc Hàn với Nam Hàn, CS Đông Đức với Tây Đức trước khi bức tường Bá Linh sụp đổ, CS Bắc Việt với Nam Việt Nam trước 1975 là sáng tỏ vấn đề.

Chúng ta có thể suy luận rằng, nếu chế độ CS biến mất tại VN thì chỉ trong vòng một thập niên, dân tộc chúng ta sẽ vươn lên mạnh mẽ và có thể sánh vai cùng các quốc phát triển Đông Á.

Lịch sử nhân loại cũng minh chứng rằng, tất cả các chế độ độc tài đều có một đặc tính chung:

Đó là tính vị kỷ siêu việt.

Quân phiệt vị kỷ vì quyền lợi của một số tướng lãnh, giáo phiệt vị kỷ vì quyền lợi của một nhóm giáo sĩ, phát xít và cộng sản vị kỷ vì quyền lợi của một số đảng viên. Tuy nhiên đảng trị theo mô hình Mác Lê là tồi tệ nhất.

Trong khi trật tự chính trị Mác Lê đã bị nhân loại khinh bỉ và vứt vào thùng phân của lịch sử thì những người CSVN, TQ, Cuba, Bắc Hàn muối mặt bám víu thây ma này, cũng vì tính vị kỷ siêu việt nêu trên mà thôi.

Đảng CSVN trong bản chất  là một định chế được khai sinh để nắm giữ quyền lực cho một nhóm thiểu số đảng viên được ưu tiên tuyệt đối trong xã hội.

Vị kỷ đưa đến bất lực:

 

Chính vì mục tiêu tối thượng là nắm giữ quyền lực vị kỷ mà đảng trở nên bất lực trong trách nhiệm quản trị quốc gia.

Sự kiện đảng phải ban hành Nghị quyết Trung ương 4, Khóa XII nhằm, “ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” trong nội bộ là một bằng chứng hiển nhiên.

Việc đảng phải liệt kê đến 27 hiện tương suy thoái cho thấy mức độ trầm trọng của khủng hoảng niềm tin và đạo đức trong hàng ngũ lãnh đạo. Những hiện tương như “phai nhạt lý tưởng cách mạng”, “giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, hay “hoài nghi tư tưởng Hồ Chí Minh” không chỉ là vấn đề nội bộ mà còn phản ánh sự đổ vỡ trong nền tảng tư tưởng của cả hệ thống chính trị.

Sự bất lực này không chỉ dừng lại ở khía cạnh tư tưởng mà còn lan rộng sang quản trị kinh tế, xã hội. Các vụ tham nhũng lớn như vụ Việt Á, vụ AIC (Công ty cổ phần tiến bộ quốc tế), hay các sai phạm trong ngành ngân hàng, đất đai, giáo dục,  đều cho thấy sự yếu kém trong kiểm soát quyền lực và minh bạch hóa quản lý. Khi hệ thống giám sát nội bộ không đủ mạnh, quyền lực bị lạm dụng, và người dân phải gánh chịu hậu quả bằng giá cả leo thang, môi trường bị tàn phá, và cơ hội phát triển bị bóp nghẹt.

Cũng vì tính vị kỷ tiềm tàng trong trật tự chính trị Mác Lê, đảng hoàn toàn bất lực trong nhu cầu hoạch định những sách lược lớn của quốc gia.

Viễn kiến là khả năng nhìn xa trông rộng, dự báo và chuẩn bị cho tương lai. Trong thời đại tin học này, dĩ nhiên CSVN cũng có khả năng đó nhưng lại hoàn toàn bất lực. Trong khi nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Singapore, hay gần đây là Ấn Độ đã có những chiến lược rõ ràng để chuyển đổi mô hình phát triển, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân, đầu tư vào công nghệ cao, giáo dục và năng lượng sạch, thì Việt Nam vẫn loay hoay với mô hình tăng trưởng dựa vào tư bản nước ngoài, tư bản đỏ của gia đình đảng viên chóp bu, khai thác tài nguyên, và lao động giá rẻ.

Việt Nam vẫn phụ thuộc nặng nề vào nhiệt điện than – một nguồn năng lượng gây ô nhiễm và không bền vững. Trong khi đó, các nước láng giềng đã chuyển mạnh sang năng lượng tái tạo, xây dựng nền kinh tế xanh để đón đầu xu thế toàn cầu. Việc chậm trễ trong chuyển đổi không chỉ khiến Việt Nam bị tụt hậu mà còn làm tăng rủi ro về môi trường và sức khỏe người dân.

Hiến định hóa sự vị kỷ của đảng:

Tính vị kỷ của đảng thể hiện trong Hiến Pháp 2013 qua việc hiến định hóa doanh nghiệp nhà nước như lực lượng kinh tế chủ đạo, thay vì doanh nghiệp tư nhân. Đảng cũng cố tình hiến định hóa chủ quyền đất đai “do nhà nước quản lý”, không thuộc sở hữu tư nhân.

Đảng ý thức rằng tài sản là một hình thức quyền lực. Nếu người dân có tư sản thì sẽ có quyền lực thách thức độc quyền của đảng. Chính vì thế, đảng chỉ cho phép người dân phát triển tư sản nửa vời. Hậu quả là các quốc gia CS càng giáo điều thì người dân càng nghèo khổ, điển hình là Cuba và Bắc Hàn. CS Cuba thì đang trên bờ vực thẳm. CS Bắc Hàn là cùi hủi của nhân loại.

Nếu vì sự sống còn mà đảng nới lỏng chút ít thì phát triển chậm như VN hoặc rơi vào bẫy “thu nhập trung bình” (middle income trap) như Trung Quốc, thay vì trở thành quốc gia không CS thu nhập cao như Singapore, Đài Loan, Nam Hàn hoặc Nhật Bản.

Đối với CSVN, chỉ có người dân vô sản trần truồng và đảng viên lãnh đạo giàu sụ, thì mới dễ kiểm soát.

Trong lĩnh vực giáo dục, thay vì cải cách triệt để để tạo ra một thế hệ công dân sáng tạo, độc lập và có tư duy phản biện, hệ thống giáo dục Việt Nam vẫn duy trì lối học nhồi sọ thiếu thực tiễn. Điều này khiến nguồn nhân lực không đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế hiện đại, dẫn đến tình trạng thất nghiệp gia tăng, và chảy máu chất xám.

Tính vị kỷ siêu việt và nỗi ám ảnh mất quyền lực của Đảng đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho quyền lợi quốc gia.

Kết luận:

Đảng CSVN cần phải trả lại quyền tự quyết dân tộc cho nhân dân để đất nước có thể:

1.   Hoàn  tất tiến trình dân chủ hóa,

2.   Xây dựng một nền dân chủ hiến định, pháp trị, đa nguyên chân chính, hầu

3.   Khắc phục những hậu quả nghiêm trọng mà độc tài đảng trị đã gây ra cho dân tộc suốt thế kỷ qua.




Monday, 9 March 2026

 

Ba chiến dịch của Hoa Kỳ và sự tái định hình tương quan quyền lực thế giới.

LS Đào Tăng Dực

Trong bối cảnh địa chính trị đầy biến động,  Hoa Kỳ đã tiến hành ba chiến dịch thay đổi cán cân quyền lực giữa thế giới tự do và trục độc tài bao gồm LB Nga, CSTQ, Giáo Phiệt Iran và CS Bắc Hàn.

Đó là  vụ bắt cóc TT Maduro của Venezuela, tấn công triệt tiêu tiềm năng chiến tranh của Iran, và phong tỏa Cuba.

Các sự kiện này không chỉ làm thay đổi cán cân quyền lực mà còn phơi bày những giới hạn nghiêm trọng của hệ thống vũ khí Nga – Trung, khiến các cuộc duyệt binh hoành tráng trở nên những trò cười, đồng thời buộc Moscow và Bắc Kinh phải điều chỉnh hành vi tại Ukraine, Đài Loan, Biển Hoa Đông và Biển Đông.

I.           Trước hết các chiến dịch của Hoa Kỳ là “bài kiểm tra thực chiến” cho vũ khí Nga – Trung:

 

1.   Bắt cóc Maduro của Venezuela:

Một chiến dịch đặc biệt thành công ngay trên lãnh thổ một quốc gia thân Trục LB Nga- CSTQ cho thấy:

-       hệ thống tình báo – phản gián do Nga hỗ trợ Venezuela rất yếu kém,

-       các hệ thống phòng không Nga cung cấp không thể ngăn chặn lực lượng đặc nhiệm Hoa Kỳ,

-       khả năng bảo vệ đồng minh của Moscow và Bắc Kinh không thực sự giá trị.

 

2.   Tấn công tiêu diệt tiềm năng chiến tranh của Iran

Mặc dù Iran sở hữu và tin tưởng vào các hệ thống phòng không S-300PMU2 (Nga),HQ-9B (Trung Quốc),và nhiều hệ thống nội địa dựa trên công nghệ Trục LB Nga- CSTQ nhưng  toàn bộ mạng lưới này đã bị vô hiệu hóa nhanh chóng, đưa đến kết luận:

-       vũ khí Trục LB Nga- CSTQ không thể chống lại tác chiến điện tử, tàng hình và tên lửa hành trình của Hoa Kỳ,

-       các hệ thống phòng không hoàn toàn không đủ khả năng thực chiến,

từ đó uy tín của LB Nga và CSTQ hầu như bị hủy diệt vì trình độ kỹ thuật chiến tranh không đủ sức bảo vệ đồng minh của mình.

3.   Phong tỏa Cuba

Cuba là biểu tượng lịch sử của đối đầu Hoa Kỳ – Liên Xô và sau đó trở nên sân sau của LB Nga và CSTQ như lưỡi dao bên cạnh sườn của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đang xiết chặt thêm phong tỏa, Cuba đang thoi thóp mà Trục LB Nga- CSTQ không hề có biện pháp hổ trợ, ngoài những tuyên bố, tuyên ngôn sáo rỗng. Điều đó chứng minh rằng:

-       Trục LB Nga-TQ không đủ năng lực triển khai sức mạnh quân sự xa bờ,

-       các tuyên bố kiểu “môi hở răng lạnh” chỉ là khẩu hiệu,

-       uy tín quân sự của họ chỉ là ảo tưởng.

 

II.         Các trò phô trương sức mạnh bằng duyệt binh của Nga và Trung Quốc trở nên “mất giá trị”

Nga và Trung Quốc thường dùng duyệt binh để phô trương sức mạnh,gửi thông điệp răn đe,và huyền thoại hóa ảnh tượng cường quốc của mình.

Nhưng sau ba biến cố nêu trên, nhân dân của chính họ và toàn thế giới đều hiểu rằng:

-       duyệt binh chỉ là “trình diễn”, không phản ảnh năng lực thực chiến,

-       các vũ khí xuất hiện trong duyệt binh không chứng minh được hiệu quả,

-       hình ảnh “bất khả xâm phạm” của quân đội Trục LB Nga- CSTQ bị tan theo mây khói.

Hệ lụy tâm lý trong hàng ngũ binh sỹ Ukraine và Nga đang chiến đấu khốc liệt tại mặt trận là Nga bắt đầu yếu thế.

Thật vậy, khi chứng kiến Hoa Kỳ dễ dàng vô hiệu hóa hệ thống phòng không Iran, vốn tương tự hoặc thấp hơn hệ thống Nga đang sử dụng tại Ukraine, các binh sĩ Nga tại Nam Ukraine bừng tỉnh trước thực tế là:

-       vũ khí Nga không thể chống lại vũ khí phương Tây bao gồm Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức, Thụy Điển, Phần Lan.

-       các hệ thống radar, phòng không, tác chiến điện tử Nga dễ bị xuyên thủng,

-       kho tên lửa Nga không đủ chính xác hoặc không đủ số lượng để thay đổi cục diện.

Hậu quả là trên chiến trường này:

-       Lòng quân nao núng,

-       Không dám mạo hiểm tấn công quy mô lớn,

-         mất thế chủ động tại Ukraine.

 

III.           Trung Quốc giảm kiêu khí tại eo biển Đài Loan, Biển Hoa Đông và Biển Đông

Iran là quốc gia đang được Trung Quốc hỗ trợ mạnh mẽ, vì cùng lập trường độc tài, chống dân chủ Tây Phương và cung cấp nguồn dầu thô quan trọng cho  nền kinh tế CSTQ. Khi nước này  bị Hoa Kỳ đánh gục nhanh chóng, các chiến lược gia Bắc Kinh ý thức rằng:

1.   Vũ khí Trung Quốc thật sự thiếu chất lượng trong chiến tranh hiện đại

Các vũ khí phòng không, chiến đấu cơ, hang không mẫu và chiến hạm của CSTQ đều chưa trải qua thực chiến với đối thủ mạnh. Khi hệ thống phòng không Iran (dựa trên công nghệ Trung Quốc) bị vô hiệu hóa, Bắc Kinh hiểu rằng:

-       họ chưa đủ sức đối đầu trực tiếp với Hoa Kỳ,

-       Một cuộc xâm lăng Đài Loan sẽ đưa đến thảm bại và sự sụp đổ của đảng CSTQ,

-       các hành động khiêu khích hầu như trở nên những trò hề, ngay cả đối với nhân dân của chính họ.

 

2.   Vì thế có xác xuất Trung Quốc phải giảm khiêu khích qua các động thái như:

-       giảm số lần áp sát Đài Loan,

-       hạn chế đụng độ với Nhật Bản ở Biển Hoa Đông,

-       bớt gây hấn với Việt Nam, Philippines ở Biển Đông.

Không phải vì thiện chí, mà vì nhận thức được giới hạn của chính mình.

IV.         Trục LB Nga- CSTQbuộc phải điều chỉnh chiến lược toàn cầu

Các chiến dịch của Hoa Kỳ sẽ có các hệ lụy quan trọng cho thế chiến lược toàn cầu. Trục LB Nga và CSTQ sẽ:

1.   Tập trung phòng thủ nhiều hơn thay vì bành trướng

Họ hiểu rằng họ chưa đủ thực lực để:

  • bảo vệ hiệu quả các đồng minh,
  • đối đầu trực tiếp với Hoa Kỳ,
  • dựa vào vũ khí hiện tại để duy trì ảnh hưởng.

2.   Giảm tham vọng bành trướng bằng quân sự

Nga sẽ giảm can thiệp ở Syria, châu Phi. Trung Quốc sẽ giảm tốc độ quân sự hóa Biển Đông.

3.   Chuyển sang chiến lược mềm

Tăng cường kinh tế, ngoại giao, tuyên truyền thay vì quân sự.

Các chiến dịch nêu trên của Hoa Kỳ, cộng với sự kiện các vũ khí của Pháp, Anh Quốc và Đức đang tàn phá các lực lượng Nga tại Ukraine, đang làm giảm nhuệ khí của Trục LB Nga, Trung Quốc, Iran và Bắc Hàn trầm trọng. CSVN cũng không còn hồ hởi phấn khởi như trước.

Hy vọng chính nhân dân của của các chế độ này sẽ sớm thoát ách độc tài hầu các dân tộc láng giềng của họ sẽ được sống những ngày bình yên hơn.

Mộng khôi phục lại Đế Quốc Nga thời Peter the Great của Putin đang tan vỡ và Giấc mơ Trung Quốc vươn lên dẫn đầu nhân loại của hoàng đế Tập Cận Bình đang trực diện với một thực tế phũ phàn.