Hoa Kỳ,
NATO, Liên Hiệp Âu Châu và Eo Biển Hormuz
LS Đào Tăng Dực
Ngay trong nhiệm kỳ đầu tiên, TT Trump đã bày tỏ nhiều bất bình với sự
đóng góp của những đồng minh của Hoa Kỳ trong những liên minh quân sự từ Âu
sang Á. Ông cho rằng Hoa Kỳ đã chi phí quá nhiều để bảo vệ cho các đồng minh và
ngược lại sự đóng góp của họ quá ít oi.
Nhất là đối với các quốc gia trong khối NATO tức Liên Minh Bắc Đại Tây
Dương bao gồm Canada, Anh Quốc, Turkey và phần lớn các quốc gia Tây Âu.
Ông đã nêu ra nhiều lần khả năng Hoa Kỳ rút khỏi NATO và gần đây nhất,
khi Hoa Kỳ và Do Thái oanh tạc Iran, quốc gia này đóng cữa Eo Biển Hormuz, thì NATO
từ chối không tham chiến. Ý định muốn Hoa Kỳ rút khỏi NATO càng trở nên mãnh
liệt hơn.
Dĩ nhiên Hoa Kỳ là một nền dân chủ theo tổng thống chế và có tam quyền
phân lập. Hành pháp, lập pháp và tư pháp đều có giới hạn hiến định của mình.
Khác với các nền dân chủ theo quốc hội chế nơi quan điểm “tính tối cao của quốc
hội” ( parliamentary supremacy) ngự trị.
I.
Câu hỏi đặt
ra là tổng thống Hoa Kỳ, tức hành pháp, có thể rút quốc gia ra khỏi NATO hay
không?
Câu trả lời là không vì vào năm 2023, một sắc luật được thông qua và trở
thành một phần của sắc luật National Defense Authorization Act 2024 (NDAA) quy
định muốn rút cần phải:
1. Hoặc 2/3 Thượng Viện phê chuẩn
2. Hoặc một sắc luật riêng của Quốc Hội cho
phép
Trong hoàn cảnh chính trị hiện tại, cả 2 điều
kiện này không thực tế.
Tuy nhiên điều này không có nghĩa là hành pháp
hoàn toàn bó tay.
TT Trump có thể không chính thức rút khỏi NATO
nhưng:
-
Không tham dự các phiên
họp
-
Không đóng góp tài chánh
-
Giảm số quân đồn trú tại
Âu Châu
-
Không tham gia vào các kế
hoạch liên hệ đến điều 5 của Hiệp Ước NATO
-
Phủ quyết các kế hoạch
(initiatives) của NATO
Có nghĩa là TT Trump hoàn toàn vô hiệu hóa vai
trò của Hoa Kỳ trong NATO.
Dĩ nhiên hành động này chỉ có hiệu lực trong phần
còn lại của nhiệm kỳ. Vị TT tiếp theo sẽ có sách lược khác và Hoa Kỳ có thể sẽ
phục hoạt vai trò trong NATO trở lại dễ dàng.
Trong một nền dân chủ theo quốc hội chế, không
có tam quyền phân lập, Thủ tướng, qua đảng cầm quyền nếu nắm đa số trong quốc
hội, thông thường sẽ rộng quyền hơn là
tổng thống Hoa Kỳ. Chính vì thế, các quốc gia độc tài cộng sản đều theo quốc
hội chế.
II.
Câu hỏi kế tiếp là NATO không có Hoa Kỳ có rã đám
hay bất lực trước LB Nga hay không?
Câu trả lời là không.
Mặc dầu TT LB Nga Putin sẽ rất vui mừng vì một
chiến thắng địa chính trị lớn, nhưng NATO vẫn là một sức mạnh đáng gờm.
Trước hết, ngay cả nếu chiếc dù nguyên tử của
Hoa Kỳ không còn bảo vệ nữa, thì Anh Quốc và Pháp vẫn là 2 cường quốc nguyên tử
của NATO. Mỗi quốc gia có khoảng 300 đầu đạn hạt nhân trong khi LB Nga có
khoảng 6000. Nghe thì cán cân quá chênh lệch nhưng sự thật thì nhân loại chỉ
cần 100 đầu đạn nguyên tử là đã tận diệt rồi. Số lượng còn dư thừa chỉ có giá
trị tâm lý mà thôi.
Thêm vào đó khi so sánh LB Nga và NATO (trừ
Hoa Kỳ) thì dân số Nga là 146 triệu, NATO 600 triệu, GDP LB Nga là $2 trillions
còn NATO là $20 trillions, Chi phí quốc phòng LB Nga là $146 tỷ còn NATO là
$457 tỷ. Trong trường hợp chiến tranh, tiềm năng quân sự của NATO sẽ vượt trội
hơn nữa. Các con số trên dựa vào thống kê 2024. Nhiều quốc gia Tây Âu đã tăng
ngân sách quốc phòng đáng kể sau năm 2024 vì cuộc chiến tại Ukraine.
LB Nga chỉ có một hàng không mẫu hạm không khả
năng tác chiến, còn Anh Quốc có 2 và Pháp có một. Cả 3 HKMH này đều tối tân và
trang bị hiện đại hơn HKMH của Nga.
Nếu xung đột có xảy ra, dù không có sự tham dự
của Hoa Kỳ, NATO vẫn đủ sức đối phó và đánh bại LB Nga.
III.
Tại sao các nước trong NATO từ chối không tham
chiến với Hoa Kỳ tại Iran?
Hầu như các quốc gia trong khối và các quốc
gia Á Châu đều lệ thuộc vào dầu hỏa qua Eo Biển Hormuz nhiều hơn Hoa Kỳ. Tại
sao họ không chịu tham chiến và chỉ hứa sẽ tham gia kiểm soát sau khi cuộc
chiến chấm dứt mà thôi?
Các biện minh họ nêu ra gồm:
1. Đây
là cuộc chiến của HK và Do Thái mà họ không hề được tham khảo trước.
Biện minh này không đúng hoàn toàn. Thực
sự ngoài Do Thái ra, HK còn bị áp lực từ chính các quốc Trung Đông khác như
Saudi Arabia, UAE, Kuwait .. vì Iran theo hệ phái Shi’a của Hồi Giáo và họ đa số
theo hệ phái Sunni. Hai phái này như nước với lửa và quyết chiến đến cùng.
2. Họ
có những nhu cầu quốc phòng trước mắt và không đủ khí tài để sử dụng trong một
cuộc chiến quy mô lớn như tại Iran.
Lý do thật sự hoàn toàn khác:
1. TT
Trump đã quá mạnh tay áp đặt thuế lên cả đồng minh Âu Châu lẫn các đồng minh
khác mà không phân biệt các quốc gia độc tài.Tạo phản cảm trong quần chúng tại
các quốc gia dân chủ này.
2. Các
cường quốc Âu châu đều là những cựu quốc gia thực dân và có lượng di dân rất lớn
từ các cưu thuộc địa. Những di dân này, sau khi có quốc tịch, có quyền bỏ phiếu
trong các cuộc bầu cử dân chủ. Rất nhiều di dân cựu thuộc địa này theo Hồi Giáo
và chống Do Thái.
3. Họ
có chiếc dù nguyên tử của Anh và Pháp. Pháp đang dự tính phát triển lượng bom
nguyên tử và đưa sang các quốc gia khác, nhất là Đức để xây dựng một hàng rào
nguyên tử cho Âu Châu. Đức dự tính khai triển các chiến đấu cơ có khả năng sử dụng
bom nguyên tử của Pháp. Anh Quốc còn triển khai thêm lực lượng tàu ngầm nguyên
tử tại Bắc Âu ngay ngưỡng cữa của LB Nga.
4. Trong
tương lai, các quốc gia lớn và tuyến đầu như Đức và Ba Lan có khả năng phát triển
vũ khí nguyên tử cho chính mình nữa và họ có đủ trình độ khoa học kỹ thuật để
nhanh chóng thực hiện.
IV.
Âu
Châu và các quốc gia khác có bó tay trước tình trạng Eo Biển Hormuz hay không?
Tuy nhiên các quốc gia Tây Âu vẫn bị áp
lực từ một số quần chúng ủng hộ cho cuộc chiến hoặc muốn chính phủ can thiệp để
mở cữa Eo Biển Hormuz hầu cứu vãn nền kinh tế.
Thêm vào đó họ vẫn muốn chứng tỏ với TT
Trump rằng, tuy không trực tiếp tham chiến, nhưng họ vẫn cố gắng đóng góp tích
cực vào tiến trình mở cữa Eo Biển này. Dù sao Trump cũng là TT của Hoa Kỳ, siêu
cường vô đối của thế giới.
Chính vì thế ngày 2 tháng 4 vừa qua,
Anh Quốc tổ chức họp cấp ngoại trưởng các quốc gia trên thế giới. Mục đích là
chứng minh rằng họ vẫn chống Iran nhưng muốn giải quyết vấn đề Eo Biển Hormuz một
cách ôn hòa, tránh bạo lực, mà không loại trừ khả năng can thiệp quân sự như biện
pháp cuối cùng.
Các quốc tham dự gồm khoảng 35- 40 nước
gồm Anh, Pháp, Đức, Ý, Hòa Lan, các quốc gia Bắc Âu và các quốc gia Baltic (Âu
Châu); Nhật, Úc, Nam Hàn, Ấn (Á Châu Thái Bình Dương); UAE, Bahrain, Panama,
Nigeria (Trung Đông và vùng Vịnh); Canada (Bắc Mỹ); Hoa Kỳ không tham dự.
Các quốc gia này dự tính có kế hoạch giải
quyết khủng hoảng này bằng những phương tiện ngoại giao, kinh tế, chính trị kể
luôn cả quân sự khi cần thiết.
Cho đến bây giờ thì qua những thương
thuyết và tiếp xúc riêng, Iran đã cho phép một tàu bè số quốc gia “không thù
nghịch” như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Oman, Nhật Bản và Pháp được quyền đi
qua eo biển này. Có thể đây là một chiến thuật của Iran nhằm chia rẽ các đồng
minh của Hoa Kỳ.
Hà Nội đã tiếp xúc và yêu cầu Iran cho
phép. Iran đang duyệt xét yêu cầu này.
Dĩ nhiên tình hình có thể biến chuyển
trong tương lai.