Thursday, 8 January 2026

 

Tu chính hiến pháp của Tô Lâm năm 2025: “Sắp đặt lại giang sơn” hay tái cấu trúc quyền lực hầu Công An  nuốt trọn giang sơn


Luật Sư Đào Tăng Dực

 

Đại hội 14 của đảng CSVN sẽ diễn ra các ngày 19 đến 25 tháng giêng, 2026.

Đây là một biến cố trọng đại cho vận mệnh đảng và cho cả đất nước. Đất nước có nguy cơ chuyển từ độc tài đảng trị qua độc tài công an trị. Từ “quốc gia dân tộc, quân đội, công an là phương tiện và đảng CSVN là cứu cánh”, đến công an, như một định chế quyền lực vô đối, trở thành cứu cánh. “Quốc gia, dân tộc, quân đội đều trở thành công cụ hoặc phương tiện phục vụ cho công an”.

Để chuẩn bị cho tiến trình công an trị, Tô Lâm đã tu chính HP 2013 để tái cấu trúc quyền lực hạ tầng cơ sở rồi.

 

I.               Tại sao tu chính HP của TBT Tô Lâm năm 2025 lại có thể là một thủ thuật để tái cấu trúc quyền lực trong nội bộ đảng CSVN hầu phe công an nuốt trọn giang sơn?

Theo Nghị quyết được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 12/6, từ ngày 1/7,2025 Việt Nam chính thức giảm số đơn vị hành chính cấp tỉnh từ 63 xuống còn 34, thông qua việc sáp nhập và tái cấu trúc địa giới hành chính

Các đơn vị cấp huyện hoàn toàn hủy bỏ

Khoảng 260.000–290.000 người thuộc các lực lượng công chức, viên chức và công an cấp huyện và xã sẽ phải tái bố trí, tinh giản hoặc chuyển đổi vị trí việc làm.

Đây không phải thuần là cải tổ hành chánh chân chính mà là một âm mưu mở ra cơ hội vàng cho phe công an.

Tại sao như thế?

Tô Lâm và phe nhóm công an ý thức rằng điều luật đảng quy định trong ĐH 14 sắp đến,  1588 đại biểu từ hạ tầng cơ sở sẽ bầu lên Ban Chấp Hành Trung Ương (180UV), BCHTU sẽ bầu lên Bộ Chính Trị (khoảng 18-19 UV) và Tổng Bí Thư. Muốn nắm BCT và ghế TBT phải bắt đầu từ hạ tầng cơ sở. Sắp đặt lại giang sơn sự thật là sắp đặt lại cấu trúc hạ tầng của đảng để phe công an nắm giữ những cấu trúc hạ tầng và cử đại biểu về tham dự ĐH đảng. Tô Lâm đã giữ chức vụ trùm công an rất lâu và âm thầm củng cố quyền lực, loại bỏ các đối thủ để chiếm ngai vàng qua đảng.

Lợi thế của Tô Lâm:

1.    Trên bình diện pháp lý:

Trong cấu trúc quyền lực đảng CSVN, công an là lực lượng vô đối, còn hơn cả mật vụ của LX vì ngay trong giai đoạn Công An trị đỉnh cao của Stalin thì   NKVD (Bộ Dân ủy Nội vụ) là cơ quan công an – an ninh – cảnh sát mật.

Ngay cả NKVD khát máu cũng chỉ được thành lập và tổ chức bằng sắc lệnh và luật chuyên ngành, không phải bằng hiến pháp 1936 của Stalin.

Trong khi đó thì Chương IV của HP 2013 (các điều 64 đến 68) là bệ phóng quyền lực của Công An vì cả CA lẫn quân đội đều là lực lượng vũ trang ngang nhau.

2.    Trên bình diện nhân sự:

 

Tuy được hiến định hóa như nhau nhưng CA có nhiều lơi thế hẳn vì:

-        Nhân số giữ bí mật

-        Lực lượng chính quy: không công bố

-        Lực lượng bán chuyên trách đã lên đến: 2.000.000 người

-        Trong khi quân đội

-        Số quân tại ngũ        482.000

 

3.    Trên bình diện vận hành:

Công an có lợi thế pháp lý, nhất là phương diện hình luật, có hồ sơ cá nhân của mọi công dân, kể cả quân nhân.

Điều 3 Luật Công an nhân dân 2018 nêu rõ:

“Công an nhân dân là lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.”

Luật trên bao gồm hồ sơ tham nhũng của mọi nhóm quyền lực do Công An nắm giữ.

 

II.            Câu hỏi kế tiếp là: các phe nhóm quyền lực trong đảng CSVN là gì và tương quan lực lượng như thế nào giữa các phe?

Trên nguyên tắc, các phe nhóm quyền lực trong đảng CSVN bao gồm:

1. Khối Công an – An ninh

Do Bộ Công an nắm vai trò trung tâm trong kiểm soát nội bộ và chống tham nhũng.

2. Khối Quân đội

Bộ Quốc phòng có hệ thống nhân sự và nguồn lực riêng.

3. Khối Chính phủ – Technocrat

Gồm các quan chức điều hành kinh tế, tài chính, đầu tư, ngoại giao.

4. Khối Đảng – Kiểm tra – Kỷ luật

Gắn với các cơ quan tổ chức, kiểm tra, nội chính.

Tuy trên lý thuyết có 4 khối hay nhóm quyền lực, nhưng tựu trung chỉ có 2 khối có thực lực và kỷ luật nội bộ: Công an và quân đội.

Khối đảng thật sự là một lực lượng đang suy tàn và bị CA lấn lướt, trở nên một bóng mờ. Phe chính phủ hiện giờ do một tướng CA là Phạm Minh Chính lãnh đạo. Chỉ còn QĐ là đối trọng tương đối có thực lức trước đà tiến công an trị hầu như bất khả vãn hồi.

III.         Từ trước đến nay, Đảng CSVN hầu như nắm quyền lực vô đối, tại sao lại có thể bị một trùm công an như Tô Lâm thao túng đến mức độ này?

Sức mạnh vô đối của đảng thật sự chỉ là một huyền thoại. Đảng cũng chỉ là một tập thể độc tài tầm thường và sẽ cáo chung như các đảng Quốc Xã của Hitler, Phát Xít của Mussolini và các đảng CS Liên Xô, Đông Âu…Đảng CSVN trên đường suy thoái bất khả vãn hồi và Tô Lâm nhìn thấy cơ hội.

Tô Lâm có bước đi chiến lược được chuẩn bị từ lâu.

Tại thượng tầng cơ sở tức bộ chính trị thì Tô Lâm hiện giờ nắm thế thượng phong với chức vụ đương kim TBT. Phe CA có 6 UV so với QĐ là 3 UV:

6 UV xuất phát từ Công an (CAND)

Tô Lâm,Lương Tam Quang, Nguyễn Duy Ngọc, Phan Đình Trạc, Phạm Minh Chính (giữ chức vụ Thủ Tướng), Nguyễn Hòa Bình

Chỉ 3 UV phát xuất từ QĐ:

Các ĐT Lương Cường, Phan Văn Giang, Nguyễn Trọng Nghĩa

3 UV phát xuất từ phe đảng:

Trần Cẩm Tú, Nguyễn Văn Nên, Nguyễn Xuân Thắng

Những thành phần tạm gọi là khối chính phủ bao gồm:

Lê Minh Hưng – Ngân hàng Nhà nước

Bùi Thị Minh Hoài – Công tác dân vận

Đỗ Văn Chiến – Công tác dân tộc

Trần Thanh Mẫn – Dân sự

Ngoài các thành phần phe Đảng và chính phủ rời rạc, không thực lực, còn có khả năng các UV là Công an trá hình nữa.

IV.          Kết luận

Sắp đặt lại giang sơn chỉ là một cái cớ để CA chiếm lĩnh toàn bộ hạ tầng cơ sở của guồng máy chính quyền, loại bỏ ảnh hưởng của QĐ và Đảng. Khi sắp xếp lại lãnh đạo 34 đơn vị cấp tỉnh và các xã, với nhân lực áp đảo của hằng trăm ngàn (có thể lên con số triệu) công an chuyên trách (con số chính thức được bảo mật) với sự củng cố của 2 triệu công an bán chuyên trách là một sức mạnh vô đối. Tô Lâm có thể loại bỏ những đại biểu phe khác. Củng cố bằng phe CA.

Mưu đồ của Tô Lâm tiếp theo âm mưu sắp đặt lại giang sơn là trong ĐH 14 sắp tới, hoàn tất tiến trình công an trị, biến đảng CSVN và QĐ thành công cụ phục vụ cho CA như là cứu cánh. Tô Lâm có thành công trọn vẹn hay không thì chúng ta chỉ cần nhìn vào thành phần CA trong BCT mới. Sắp xếp lại giang sơn chỉ là một cái cớ để đoạt giang sơn trong chiến lược toàn vẹn này của Tô Lâm mà thôi. 




Sunday, 4 January 2026

Tổng thống Trump, Iran, Venezuela và Trật tự thế giới (International world order)

Luật sư Đào Tăng Dực

Tổng thống Trump thường bị truyền thông Hoa Kỳ và quốc tế mô tả là một nhà lãnh đạo không tuân thủ các chuẩn mực truyền thống, thậm chí hành động bốc đồng. Nhận định này, trong nhiều trường hợp, không phải là vô căn cứ. Tuy nhiên, việc đánh giá một chính sách hay hành động quốc tế không thể chỉ dựa trên hình ảnh cá nhân; điều quan trọng hơn là xem xét hậu quả thực tế của từng quyết định.

Sau hai sự kiện gây chấn động – cuộc oanh kích các cơ sở hạt nhân Iran năm 2025 và chiến dịch đặc nhiệm bắt giữ Tổng thống Maduro của Venezuela đầu năm 2026 – nhiều cơ quan truyền thông phương Tây lập tức tuyên bố rằng trật tự thế giới đã bị phá vỡ. Họ cho rằng Tổng thống Trump đã phớt lờ luật pháp quốc tế, sử dụng sức mạnh quân sự vô đối của Hoa Kỳ và kéo nhân loại trở lại thời kỳ “luật rừng” trước Thế chiến II, khi kẻ mạnh áp đặt luật chơi lên kẻ yếu như Đức Quốc Xã, Phát Xít Ý Đại Lợi và Phát Xít Nhật Bản từng áp đặt cho thế giới.

Những tiếng nói chỉ trích này xuất hiện dày đặc trên các tờ báo như Foreign Policy, Global News, Just Security, The Conversation và nhiều hãng truyền thông chính thống khác. Tuy nhiên, cách nhìn này bỏ qua một thực tế quan trọng: cái gọi là “trật tự quốc tế” sau Thế chiến II vốn dĩ chưa bao giờ hoàn toàn công bằng hay hiệu quả như nhiều người vẫn tưởng.

Trật tự quốc tế: Lý tưởng và thực tế

Các văn kiện như Hiến chương Liên Hiệp Quốc, Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền hay Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị được xem như nền tảng của trật tự thế giới hiện đại. Nhưng trong thực tế, trật tự này vẫn vận hành theo quy luật “mạnh được yếu thua”. Các quốc gia dân chủ thường cố gắng tuân thủ luật lệ quốc tế, đôi khi đến mức ngây thơ, và chính sự tuân thủ cứng nhắc này đã khiến nhiều đồng minh – trong đó có Việt Nam – phải trả giá.

Ngược lại, các chế độ độc tài và bá quyền lại công khai phớt lờ luật lệ quốc tế. Lịch sử hiện đại đầy rẫy ví dụ:

  • Khrushchev đàn áp Hungary
  • Mao Trạch Đông chiếm Tây Tạng
  • Đặng Tiểu Bình tấn công Việt Nam
  • Nga xâm chiếm Ukraine
  • Trung Quốc gây hấn và đòi nuốt trọn Biển Đông

Những hành động này hiếm khi bị truyền thông quốc tế lên án mạnh mẽ như khi Hoa Kỳ tấn công Iran hay bắt giữ Maduro. Điều này cho thấy sự bất cân xứng trong cách thế giới phản ứng với các hành động của các cường quốc khác nhau.

Sách lược “khó đoán” và tác động thực tế

Tuy nhiên chính sự khó đoán và quyết liệt của Tổng thống Trump lại khiến các nhà độc tài trên thế giới dè chừng. Từ Tô Lâm, Kim Jong-un, Khameini, Putin cho đến Tập Cận Bình – tất cả đều phải tính toán lại khi đối diện một đối thủ không hành xử theo khuôn mẫu quen thuộc, nhất là khi họ ý thức rằng ngai vàng của họ không vững chắc như tưởng tượng vì đám thần dân bất hạnh bị họ cai trị chỉ chờ cơ hội vùng lên đạp đổ độc tài và vứt họ vào thùng phân thối tha của lịch sử.

Tại Iran, các đợt tấn công và cấm vận của Hoa Kỳ làm chính quyền kiệt quệ. Chính quyền giáo phiệt này đang đối mặt với làn sóng phản kháng mạnh mẽ từ quần chúng. Tổng thống Trump tuyên bố sẽ không đứng yên nếu chính quyền này đàn áp người biểu tình, tạo áp lực lớn lên giới lãnh đạo Iran.

Tại Venezuela,các chính sách rập khuông xã hội chủ nghĩa đã biến một quốc trù phú trở nên nghèo đói xác xơ. Việc Maduro bị bắt và đưa sang Hoa Kỳ xét xử được xem là bước ngoặt. Sự kiện này có thể thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa, củng cố lực lượng đối lập và mở ra cơ hội mới cho người dân Venezuela xây dựng lại đất nước.

Không có lãnh đạo hoàn hảo – chỉ có chính sách cần được đánh giá

Trong chính trị đương đại không có đảng phái hay lãnh đạo nào hoàn hảo. Mỗi người đều có ưu và khuyết điểm. Do đó, việc thần tượng hóa cá nhân là sai lầm; điều cần thiết là đánh giá từng chính sách cụ thể. Trong trường hợp Iran và Venezuela, rõ ràng sách lược của Tổng thống Trump là đúng đắn và đáng được ủng hộ.

Trật tự thế giới cần được xem xét lại

Trật tự thế giới hiện hành đã trở nên thiên lệch, vô tình hoặc cố ý bảo vệ các chế độ độc tài. Nhiều cơ quan truyền thông quốc tế cũng bị cho là đồng lõa khi chỉ trích mạnh mẽ các hành động của các nền dân chủ nhưng lại im lặng trước hành vi xâm lược của các chế độ toàn trị.

Do đó, trật tự này không thể được xem là “khuôn vàng thước ngọc”. Nó cần được cải tổ sâu rộng. Và trong khi chờ đợi sự thay đổi đó, đôi khi vì lý tưởng dân chủ, việc phớt lờ những quy tắc lỗi thời có thể là cần thiết để đạt được những mục tiêu nhân đạo và chính nghĩa cao thượng hơn.

 



Saturday, 13 December 2025

 

Quan hệ Trung- Nhật và những sai lầm bán nước của người CSVN

LS Đào Tăng Dực

 

Vào ngày 8/11/2025, một biến cố ngoại giao Nhật-Trung chấn động xảy ra. Đó là Thủ tướng Nhật Bà Sanae Takaichi phát biểu tại Quốc hội rằng nếu Trung Quốc tấn công đảo quốc Đài Loan, Nhật Bản có thể coi đó là tình huống khủng hoảng ảnh hưởng đến sự tồn vong của quốc gia và có quyền sử dụng vũ lực phòng vệ.

Phản ứng của Tổng lãnh sự TQ tại Osaka Tiết Kiếm lập tức xuất hiện trên trang mạng X (Twitter). Ông hăm dọa “chặt đầu” Thủ tướng Nhật. Đây là một phát ngôn từ một viên chức ngoại giao cấp cao của CSTQ và mang phong cách vừa cao ngạo, vừa khát máu.

Dĩ nhiên lời tuyên bố này khơi dậy lòng tự ái dân tộc của toàn dân Nhật Bản, vốn là một dân tộc kiêu hùng và một cường quốc kinh tế lẫn quân sự đáng nể của thế giới và nữ thủ tướng Takaichi đang nhận được sự ủng hộ từ quần chúng cao nhất trong các thủ tướng đương đại.

Nhiều nhà bình luận quốc tế cho rằng, đây thuần túy chỉ là một lời tuyên bố quá khích, vượt giới hạn ngoại giao và mang tính cách chiến lang (wolf warrior) của một cá nhân.

Tuy nhiên, sự thật sâu xa hơn nhiều. Tính khát máu mà Tiết Kiếm thể hiện hôm nay, phát xuất từ bản chất khát máu tiềm ẩn của đảng CSTQ vốn là một đảng CS phát xuất từ phong trào Đệ Tam Quốc Tế của Lê Nin, cùng bản chất với các đảng CSLX, Bắc Triều Tiên, Cuba và Việt Nam. Nhân loại thường kinh tởm chế độ Đức Quốc Xã của Hitler, diệt chủng hằng triệu người Do Thái. Tuy nhiên, số nạn nhân bị giết trong các lò hỏa thiêu của Hitler chỉ là những con số lẻ, khi so sánh với số nạn nhân khổng lồ ngoài sức tưởng tượng của các trùm CS Stalin, Mao Trạch Động, Kim Nhật Thành, Polpot…

Bản chất này đã thể hiện ngay trong đảng CSVN qua các cuộc Cải Cách Ruộng Đất giết hại khoảng 200 ngàn người Việt vô tội và gần đây nhất thảm sát đẩm máu gia đình cụ Lê Đình Kình và người dân xã Đồng Tâm vô tội của trùm công an Tô Lâm.

Đối với các đảng CS, thuận ta thì sống, nghich ta thì sẽ bị truy cùng diệt tận, không thể buông tha. Tiết Kiếm thừa hưởng di sản này như một đảng viên trung kiên của CSTQ.

Hơn ai hết, Ông Hồ Chí Minh hiểu rõ bản chất này của các đảng CS đàn anh vì ông là một chính trị gia lão luyên giang hồ. Tùng lăn lộn vào sinh ra tử với các đảng CS nêu trên, nhất là với đảng CSTQ dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông.

Tuy am hiểu tính khát máu này của CSTQ mà ông vẫn một lòng quy thuận họ Mao, tôn họ Mao làm thầy và đặt đảng CSVN cũng như dân tộc VN vào vòng kiềm tỏa của CSTQ, là một hành động vô trách nhiệm và vô cùng thiếu viễn kiến.

Nhật Bản là một cường quốc, từng chiếm đóng lãnh thổ TQ mà còn bị đối xử như vậy, thử hỏi một quốc gia nhược tiểu như VN, trong mắt của Tiết Kiếm và đảng CSTQ ra thể thống gì?

Tại sao ông Hồ làm như thế mặc dầu với kinh nghiệm của ông, ông rất hiểu bản chất khát máu này của đảng CSTQ?

Lý do có thể rất nhiều nhưng tựu trung có thể tóm lược như sau:

1.    Một là tuy là một chính trị gia khôn lanh nhưng ông thiếu viễn kiến, không nhìn xa để tiên đoán sự hành xử của đảng CSTQ trong tương lai khi có sự xung đột xảy ra giữa 2 quốc gia hoặc 2 đảng, hoặc

2.    Tuy hiểu được nhưng ông vẫn coi nhu cầu phục tùng đảng CSTQ và Mao Trạch Đông là ưu tiên hầu nhận được sự ủng hộ và viện trợ vũ khí để tiêu diệt các đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt, Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng  và những đảng phái quốc gia khác, nhằm thỏa mãn tham vọng quyền lực, bất kể vận mệnh dân tộc trong tương lai.

3.    Một lý do khả tín nữa là tuy ông Hồ là một chính trị gia lão luyện, nhưng trình độ học thức của ông rất khiêm tốn, chỉ có bằng Primaire của Pháp. Khi so sánh với những nhân vật lớn của CSTQ như Mao Trạch Đông (Tốt nghiệp thầy giáo trung học), Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình (cả 2 đều du học tây phương). Ông Hồ chưa đưa ra một hệ thống tư tưởng nào mới lạ cho VN mà  luôn chăm chỉ kiên tâm làm “học trò của Lê Nin, Stalin và Mao Chủ Tịch” . Chính vì thế ông tin tưởng mù quáng vào chủ thuyết Mác Lê và tình hữu nghị vô điều kiện, vĩnh viễn và không biên giới giữa những quốc gia cộng sản với nhau.

Ông Hồ tự biết rằng mình thua xa Mao Trạch Dông là một học giả Mác Lê uyên bác, sáng tạo một hệ tư tưởng CS cho riêng TQ và đồng thời là một nhà quân sự cũng như chiến lược gia xuất sắc. Ông cũng tự biết là thua xa Kim Nhật Thành của Bắc Triều Tiên vì Kim Nhật Thành sáng tạo hệ tư tưởng “Chủ thể” (Juche) trong khuông khổ chủ nghĩa Xã Hội, nhấn mạnh rằng con người là chủ thể của mọi sự vật, mọi quyết định và cách mạng, đồng thời đề cao tinh thần độc lập, tự lực và tự cường của dân tộc Triều Tiên.

Sai lầm trí mạng cho dân tộc Việt Nam này của Ông Hồ đã đưa đến một sự kiện vô cùng đáng tiếc khác vào năm 1990 khi đảng CS Liên Xô sụp đổ. Đó là các đồ đệ thân cận nhất của Ông gồm Nguyễn Văn Linh là Tổng Bí thư ĐCSVN, thủ tướng Đỗ Mười và cố vấn Phạm Văn Đồng tham dự Hội nghị Thành Đô để trở về nương tựa Trung Quốc.

Phía CSTQ gồm Tổng Bí thư Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lý Bằng. CSVN đã nhượng bộ CSTQ hầu được cho phép trở lại nằm dưới trướng bảo vệ của đàn anh đến mức độ Hiệp Ước Thành Đô là một “hiệp ước đầu hàng” trên thực tế.

Mãi đến hôm nay, CSVN vẫn chưa dám công bố với quốc dân nội dung hiệp ước này.

CSTQ phản ứng tàn độc đối với cường quốc Nhật Bản ngày hôm nay như thế nào, thì chúng ta có thể tưởng tượng được thái độ hống hách và những điều kiện khắc nghiệt họ áp đặt trên đảng CSVN trong Hội Nghị Thành Đô. Dưới mắt của Tập Cận Bình ngày hôm nay thì Tô Lâm của một đảng CSVN nhược tiểu, mỗi lần đi yết kiến thiên triều đáng giá bao nhiêu?

Dân tộc Việt đã ghi vào sử sách hai giai đoạn lịch sử bi thướng: đó là “một ngàn năm đô hộ giặc Tàu và một trăm năm đô hộ giặc Tây”. Một giai đoạn thứ ba bi thương gấp bội, sẽ ghi lại là “một trăm năm đô hộ giặc Cộng”, cũng vì sai lầm trí mạng này của Ông Hồ và các đệ tử của Ông.




Sunday, 30 November 2025

 

So sánh Canada và Úc Đại Lợi và bài học cần thiết cho Việt Nam

LS Đào Tăng Dực

www.daotangduc.blogspot.com

Khi nhìn bản đồ thế giới và duyệt xét lịch sử hình thành, chúng ta nhận thấy có rất nhiều điểm tương đồng giữa Canada và Úc Đại Lợi.

I. Cả hai đều là:

1.    Cựu thuộc địa của Đế quốc Anh

2.    Lập quốc cũng thời gian tương tự vào cuối thế kỷ 19.

3.    Cùng theo thể chế quân chủ lập hiến (constitutional monarchy)

4.    Cùng theo mô hình chính trị dân chủ quốc hội chế (parliamentary democracy)

5.    Cùng có quốc vương là Vua Charles III trị vì như là biểu tượng.

6.    Cùng theo chế độ Liên Bang với nhiều quyền hiến định cho các tiểu bang (Úc) và tỉnh bang (Canada)

7.    Cả hai đều có lãnh thổ rộng lớn nhưng dân số thưa thớt

8.    Cả hai đều có tài nguyên khoáng sản dồi dào bật nhất thế giới

9.    Cả hai đều là những nước phát triển hàng đầu thế giới với lợi tức đổ đầu người rất cao. GDP đầu người năm 2025: Úc khoảng $62.559 – 64.407 USD, Canada khoảng $44.846 – 55.890 USD. Úc hiện cao hơn Canada.

10. Đều là những quốc gia có nền kinh tế phụ thuộc vào xuất cảng khoáng sản và nông sản cho thế giới.

11. Đều có bảo hiểm y tế hoàn vũ (Universal medicare) chăm sóc sức khỏe của người dân miễn phí

12. Khác biệt giàu nghèo trong xã hội tương đối thấp

13. Được ca tụng như những quốc gia trù phú và đáng sống nhất trên hoàn vũ

14. Cả hai đều có mức độ di dân từ bên ngoài rất đông, sự phát triển kinh tế lệ thuộc một phần quan trọng vào lượng di dân và đều chủ trương xã hội đa văn hóa (multiculturalism).

15. Trên phương diện quốc phòng Canada thuộc NATO và Úc thuộc AUKUS, đều có điểm tựa là Hoa Kỳ.

II. Tuy nhiên giữa 2 quốc gia này vẫn có nhiều khác biết đáng chú ý:

a.     Tuy cả 2 quốc gia đều là dân chủ đa nguyên, đa đảng và có 2 đảng chính thay nhau cầm quyền, nhưng tại Úc thì Đảng Tự Do (Liberal party) đại diện cho khuynh hướng bảo thủ và đảng Lao Động (Labour party) đại diện cho khuynh hướng cấp tiến thì tại Canada Đảng Tự Do (Liberal party) lại đại diện cho khuynh hướng cấp tiến và đảng Bảo Thủ (Conservative party) đại diện cho khuynh hướng cùng tên của mình.

b.    Các đơn vị tranh cử quốc hội liên bang tại Úc gọi tên là “electorate” và tại Canada gọi tên là “Riding”

c.     Nhiệm kỳ quốc hội tại Úc là 3 năm và tại Canada dài hơn là 5 năm

d.    Tại Úc thì Thủ tướng phải là một dân biểu hạ viện mới nắm giữ được chức vụ này. Tại Canada thì một người không phải dân biểu cũng có thể được bổ nhiệm chức Thủ Tướng, nhưng theo truyền thống thì thông thượng là dân biểu hạ viện quốc hội. Một thượng nghị sĩ trên nguyên tắc cũng có thể giữ chức vụ này, nhưng rất hiếm hoi và nếu có thì phải từ chức thượng nghị sĩ và tìm một ghế trong hạ viện.

e.     Bầu cử tại Úc thì theo phương thức “đại diện theo tỷ lệ” (proportional representation) tức rất nhạy cảm với tỷ lệ ủng hộ trong cử tri đoàn. Bầu cử tại Canada thì theo phương thức “ngựa chạy về nhất” (first past the post) ít nhạy cảm hơn với tỷ lệ ủng hộ trong cử tri đoàn và chỉ cần đa số tương đối là thắng cử.

f.     Nền kinh tế Canada lệ thuộc rất nặng vào nền kinh tế Hoa Kỳ, chính vì thế chính khách thuế quan mới của chính quyền TT Trump gây thiệt hại rất nhiều cho kinh tế Canada. Trong khi đó nền kinh tế Úc lệ thuộc tương đối nhiều vào nền kinh tế Trung Quốc. Tuy nhiên ớ mức độ vừa phải và từ lâu Úc đã đa diện hóa sách lược ngoại thương để ít lệ thuộc hơn vào một thị trường. Thị trường Hoa Kỳ đối với Úc cũng rất quan trọng nhưng không phải quá mức.

g.    Cũng vì đa dạng hóa thị trường ngoại thương sớm hơn nên sự thịnh vượng của Úc được bảo đảm hơn và GDP đầu người của Úc bây giờ cao hơn Canada.

III. Các bài học cần thiết trong thế giới đương đại:

(1) Một quốc gia muốn duy trì mức độ phát triển cần phóng khoáng hơn về chính sách di dân để duy trì dân số và lực lượng lao động. Nhật Bản quá bảo thủ trên phương diện này nên kinh tế bị suy thoái nhiều thập niên khó cứu vãn nổi.

(2) Một quốc gia muốn phát triển kinh tế lâu dài, cần khuyến khích và nuôi dưỡng thị trường nội địa lẫn thị trường xuất khẩu. Hoa Kỳ và Ấn Độ là hai quốc gia có thị trường nội địa mạnh mẽ nên ít bị khủng hoảng khi có những biến động quốc tế. Trong khi đó Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam… vì lệ thuộc quá nhiều vào thị trường xuất khẩu sẽ bị nặng nề hơn khi có những biến động quốc tế.

 

(3) Luôn chú trọng đến công tác đa dạng hóa thị trường, giảm sự lệ thuộc vào một vài thị trường duy nhất để tránh các áp lực chính trị đến từ những quốc gia có tham vọng bá quyền.

(4) Riêng Việt Nam, vì quan điểm “kinh tế thị trường” nhưng “định hướng xã hội chủ nghĩa” và chủ trương “doanh nghiệp nhà nước” là lực lượng chủ đạo, nên nền kinh tế tư nhân nội địa kém phát triển. Thị trường nội địa vì thế kém mãi lực nên rất khó phát triển. Hiến pháp 2013 quá lỗi thời và giáo điều trên phương diện này, cần phải tu chính để bắt kịp đà tiến của một thế giới cạnh tranh khốc liệt.

(5) Về thể chế dân chủ: Canada và Úc đều có hệ thống dân chủ nghị viện ổn định, tạo môi trường minh bạch cho kinh tế phát triển. Việt Nam muốn hội nhập sâu hơn cần cải cách thể chế, thực thi dân chủ đa đảng, khuyến khích cạnh tranh công bằng, giảm vai trò độc quyền của doanh nghiệp nhà nước.

(6) Về giáo dục và nhân lực: Cả Canada và Úc đều coi giáo dục là nền tảng phát triển, đồng thời biến nó thành ngành kinh tế. Việt Nam cần chú trọng giữ chân nhân tài trong nước và thu hút chuyên gia quốc tế.

(7) Về sách lược năng lượng: Bài học từ Úc và Canada cho thấy một nền kinh tế dựa vào tài nguyên phải sớm đầu tư vào năng lượng sạch để bảo đảm phát triển bền vững.

 



Wednesday, 26 November 2025

 

Hiến Pháp 2013: Từ “Đảng là cứu cánh, Công an là phương tiện” đến “Công an là cứu cánh, Đảng là phương tiện”

Luật sư Đào Tăng Dực

www.daotangduc.blogspot.com

1. Khởi điểm lịch sử: Quốc gia dân tộc như cứu cánh tối thượng

Trong tiến trình lịch sử nhân loại, từ khi xã hội loài người vượt qua thời kỳ bộ lạc, bước sang chế độ phong kiến và sau đó hình thành các quốc gia dân tộc, một nguyên tắc bất biến đã được khẳng định: quốc gia dân tộc (nation state) là cứu cánh, còn mọi định chế khác – từ vương quyền, quan lại, giai cấp xã hội cho đến quân đội, công an, chính quyền – chỉ là phương tiện để phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của quốc gia dân tộc.

Ngay cả trong giai đoạn quân chủ chuyên chế (absolute monarchy), khi quyền lực tập trung tuyệt đối vào tay vua chúa, thì vương quyền cũng được coi là công cụ để bảo vệ quốc gia dân tộc. Khi phong trào dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên lan rộng từ phương Tây sang toàn cầu, nguyên tắc này càng được củng cố: quốc gia dân tộc là cứu cánh, còn nhà nước, chính phủ, quốc hội, tư pháp, quân đội, công an, xã hội dân sự… đều là phương tiện.

2. Ngoại lệ lịch sử: Lenin và sự đảo ngược cứu cánh

Ngoại lệ lớn nhất trong lịch sử chính trị hiện đại xuất hiện với Vladimir I. Lenin và cuộc cách mạng Bolshevik năm 1917. Lenin đã sáng lập phong trào Đệ Tam Quốc Tế Cộng sản (Comintern) năm 1919, đưa ra một mô hình hoàn toàn khác: Đảng Cộng sản trở thành cứu cánh tối thượng, còn quốc gia dân tộc, quân đội, công an, chính quyền và xã hội dân sự chỉ là phương tiện để duy trì sự tồn tại của đảng.

Từ Liên Xô, mô hình này lan sang Đông Âu, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cuba và Việt Nam. Trong tất cả các quốc gia cộng sản, đảng nắm quyền tuyệt đối, đứng trên cả quốc gia dân tộc. Chính vì sự đảo ngược này, nhiều dân tộc phải chịu thảm họa: quốc gia bị coi nhẹ, nhân dân bị hy sinh, mọi định chế bị biến thành công cụ phục vụ cho sự trường tồn của đảng.

Lenin, nhờ sáng kiến này, đã chiếm một vị trí độc đáo trong lịch sử chính trị nhân loại: ông là người đầu tiên biến đảng thành cứu cánh, thay thế cho quốc gia dân tộc.

3. Hiến pháp 2013 và sự củng cố mô hình “Đảng là cứu cánh”

Tại Việt Nam, Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định nguyên tắc “Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Điều này có nghĩa: trong trật tự chính trị, Đảng là cứu cánh, còn quốc gia dân tộc, chính quyền, quân đội, công an và xã hội dân sự đều là phương tiện.

Hiến pháp 2013, về mặt hình thức, vẫn giữ nguyên mô hình Lenin: đảng đứng trên quốc gia, đảng là mục tiêu tối thượng. Công an, quân đội, chính quyền, nhân dân – tất cả đều phục vụ cho sự tồn tại của đảng.

Tuy nhiên, sự vận hành thực tế của hệ thống chính trị Việt Nam trong thập niên qua cho thấy một biến động mới đang manh nha: công an dần trở thành lực lượng trung tâm, vượt lên trên cả đảng.

4. Tô Lâm và bước ngoặt “công an trị”

Mầm mống của Công An trị nằm nơi Hiến Pháp 2013. Trong khi tại các nước dân chủ, Quân Đội là lực lượng vũ trang duy nhất bảo vệ tổ quốc, còn công an cảnh sát chỉ là lực lượng bán vũ trang duy trì an ninh trật tự, thì Tại VN các Điều 64 đến 68, Hiến pháp 2013 đã hiến định hóa cả Quân đội lẫn Công an như là hai lực lượng vũ trang ngang hang, trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Với sự thăng tiến của Tô Lâm, một nhân vật xuất thân từ ngành công an, lên vị trí cao nhất trong hệ thống chính trị, Việt Nam đang chứng kiến một sự chuyển dịch quyền lực. Nếu Lenin đã đảo ngược quốc gia dân tộc để đặt đảng lên trên, thì Tô Lâm có tham vọng đảo ngược tiếp: biến công an thành cứu cánh, còn đảng, quốc gia, quân đội và xã hội dân sự chỉ là phương tiện phục vụ cho công an.

Điều này có nghĩa: trong mô hình mới, công an không chỉ là công cụ bảo vệ đảng, mà chính đảng sẽ trở thành công cụ bảo vệ công an. Quốc gia dân tộc, quân đội, chính quyền, xã hội dân sự – tất cả đều quy phục dưới định chế công an.

Nếu Tô Lâm thành công trong Đại hội 14 của Đảng năm 2026, lịch sử chính trị Việt Nam sẽ sang một trang mới. Tên tuổi của ông có thể được ghi nhận ngang hàng với Lenin, bởi ông đã khởi động một biến cố mang tính cách mạng trong thế giới cộng sản: từ “đảng trị” sang “công an trị”.

5. Ba biến động lớn trong lịch sử chính trị nhân loại

Có thể tóm tắt tiến trình này thành ba biến động lớn:

1.    Biến động thứ nhất: Hình thành ý thức quốc gia dân tộc. Quốc gia dân tộc là cứu cánh, còn nhà nước, quân đội, công an, đảng phái, xã hội dân sự… đều là phương tiện. Nguyên tắc này tồn tại từ quân chủ chuyên chế đến dân chủ hiến định ngày nay.

2.    Biến động thứ hai: Lenin đảo ngược nguyên tắc, biến đảng cộng sản thành cứu cánh. Quốc gia dân tộc, nhà nước, quân đội, công an, xã hội dân sự… đều trở thành phương tiện phục vụ cho đảng.

3.    Biến động thứ ba: Nếu Tô Lâm thành công trong việc đưa phe công an chiếm lĩnh Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương, thì công an sẽ trở thành cứu cánh. Quốc gia dân tộc, chính quyền, quân đội, xã hội dân sự… tất cả sẽ trở thành công cụ phục vụ cho công an.

6. Ý nghĩa và hệ quả

Sự chuyển dịch từ “đảng trị” sang “công an trị” mang nhiều hệ quả:

  • Về chính trị: Đảng mất vai trò cứu cánh, trở thành công cụ. Công an nắm quyền tuyệt đối, kiểm soát toàn bộ hệ thống.
  • Về xã hội: Xã hội dân sự bị thu hẹp hơn nữa, bởi công an vốn có chức năng kiểm soát, giám sát và đàn áp.
  • Về quốc gia dân tộc: Ý niệm quốc gia dân tộc bị hạ thấp thêm một bậc, từ cứu cánh (trong mô hình dân chủ) xuống phương tiện (trong mô hình Lenin), và nay xuống thành công cụ của công an.
  • Về lịch sử chính trị: Nếu Lenin được ghi nhận là người sáng lập mô hình “đảng trị”, thì Tô Lâm – nếu thành công – sẽ được ghi nhận là người sáng lập mô hình “công an trị”.

7. Kết luận

Hiến pháp 2013, với việc khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản, đã duy trì mô hình Lenin: Đảng là cứu cánh, công an là phương tiện. Nhưng với sự trỗi dậy của Tô Lâm và ngành công an, một mô hình mới đang hình thành: Công an sẽ là cứu cánh, đảng là phương tiện.

Nếu biến động này trở thành hiện thực trong Đại hội Đảng thứ 14 năm  2026, và Tô Lâm cài đủ phe công an vào Ban Chấp Hành Trung Ương, Việt Nam sẽ bước vào một giai đoạn chính trị chưa từng có trong lịch sử thế giới cộng sản. Đó là sự ra đời của một mô hình “công an trị”, nơi công an trở thành định chế tối thượng, còn đảng CSVN, quốc gia dân tộc, chính quyền, quân đội và xã hội dân sự đều bị biến thành công cụ phục vụ cho công an.

Tên tuổi của Tô Lâm, trong trường hợp đó, sẽ được ghi nhận ngang hàng với Lenin – như một nhân vật đã khởi động một cuộc cách mạng chính trị mang tính toàn cầu, nhưng với hệ quả khó lường cho dân tộc Việt Nam.

Cũng vì Chương IV của HP 2013 (các điều 64 đến 68) là bệ phóng quyền lực của Công An nên muốn tránh biến động lớn này, toàn bộ chương IV cần phải được tu chính. Quân đội phải là lực lượng vũ trang duy nhất bảo vệ tổ quốc và công an phải trở về vị trí đúng đắn, là lực lượng bán vũ trang, duy trì an ninh trật tự cho quốc gia dân tộc mà thôi.