Sunday, 5 July 2026

 Phương thức giải thể công an trị, kiểm soát quyền lực vô đối và vô giới hạn của công an  CSVN, hầu xây dựng một nền dân chủ chân chính.


Luật sư Đào Tăng Dực

 

I.               Tại sao không những nhiều người quan tâm đến vận mệnh đất nước mà ngay cả người dân bình thường đều nghĩ rằng quyền lực công an CSVN là vô giới hạn?

Lý do là vì người dân Việt , trong đời sống hằng ngày, sợ nhất không phải là quân đội hay đảng CSVN, mà sợ hãi nhất là Công An Nhân Dân (CAND).

Điển hình là từ 1 tháng 7, 2026 tất cả các trường hợp như Việt kiều về nước ngủ ở bất kỳ đâu.Người nước ngoài ngủ ở bất kỳ đâu. Ngay cả người Việt Nam trong nước ngủ tại nhà người khác, nhà thuê, phòng trọ, chung cư, thì chủ hộ đều phải báo cáo với công an. Chỉ có người ngủ tại chính nhà mình là không cần.

Thật ra từ lâu CAND đã lộng hành ngoài sức tưởng tượng rồi.

Chẳng hạn 2 thường dân Lâm Đồng bị  Công an tỉnh xử lý do có hành vi bình luận sai sự thật, xúc phạm cơ quan tổ chức công an trên mạng xã hội vào tháng 6 năm 2026. Bên cạnh việc phạt tiền, người vi phạm bắt buộc phải gỡ bỏ hoàn toàn các bình luận, bài viết  mà CA cho là xúc phạm và cam kết không tái phạm. Chỉ vì họ cho rằng công an “ăn bám tiền thuế nhân dân”  và “làm việc chẳng ra gì”.

Ông Phạm Văn Chính, 52 tuổi, bị công an điều tra và một tòa án ở Hà Nội tuyên y án năm năm tù với cáo buộc chê xe VinFast VF 3 mà CA quy chụp là hành vi “chống nhà nước” hôm 22 Tháng Sáu. Dĩ nhiên Vinfast ai cũng biết là sân sau của các ông lớn công an rồi.

Ngoài ra, mọi người đều phải đối diện với khả năng bị CA “mời làm việc”  tại đồn CA bất cứ lúc nào không cần nêu rõ lý do.

Mỗi năm hàng trăm người chết không rõ lý do trong khi bị giữ tại các đồn CA và sau đó sự việc bị phi tang hoặc ém nhẹm.

Những chuyện cười ra nước mắt vì công an lộng hành như vậy không bao giờ xảy ra trong một nền dân chủ chân chính.

II.            Đối với người quan tâm đến vận mệnh đất nước thì quyền lực vô đối của công an phát xuất từ đâu?

Một cách ngắn gọn thì: Quyền lực của Công an nhân dân Việt Nam (CAND) không chỉ phát xuất từ Điều 67 Hiến pháp 2013, mà còn được luật định và nghị định hóa qua một hệ thống pháp luật rất dày đặc.

Điều 67 hiến pháp hiến định hóa CACSVN như sau:

“Lực lượng Công an nhân dân là lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm.”

Điều 67 chính là bệ phóng quyền lực cho CAND nói chung và cho TBT/CTN Tô Lâm nói riêng, đoạt 2 chức vụ cao nhất trong đảng và trong chính quyền, thống trị cả nhà nước lẫn xã hội dân  sự.

III.         Những bộ luật nào trao quyền lực lớn lao cho CA?

 

1. Luật Công an nhân dân 2018

Đây là bộ luật quan trọng nhất, quy định:

Tổ chức hệ thống CAND từ Bộ Công an đến công an xã

Quyền hạn sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ

Quyền kiểm tra hành chính, tạm giữ người, phương tiện

Quyền điều tra ban đầu

Đây là trụ cột pháp lý củng cố quyền lực của công an.

2. Luật An ninh quốc gia 2004

Trao cho công an quyền:

Phòng chống “âm mưu chống phá”

Bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng

Thực hiện các biện pháp nghiệp vụ bí mật

Kiểm soát thông tin, hoạt động của tổ chức – cá nhân bị xem là “đe dọa an ninh”

Đây là cơ sở pháp lý để công an can thiệp sâu vào đời sống chính trị – xã hội.

 

3. Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) 2015

Trao quyền cho công an:

Khởi tố vụ án, khởi tố bị can

Bắt người, khám xét, tạm giữ, tạm giam

Điều tra toàn bộ các tội hình sự (trừ một số tội do quân đội điều tra)

 

BLTTHS là công cụ pháp lý mạnh nhất để công an thực thi quyền cưỡng chế.

 

4. Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015

BLHS tạo không gian pháp lý rộng cho công an thông qua các tội danh:

“Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”

“Tuyên truyền chống Nhà nước”

“Lợi dụng quyền tự do dân chủ”

“Gây rối trật tự công cộng”

“Chống người thi hành công vụ”

 

Đây là cơ sở để công an xử lý bất đồng chính kiến.

 

5. Luật An ninh mạng 2018

Trao quyền:

Yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dữ liệu người dùng

Kiểm soát nội dung trên mạng

Gỡ bỏ thông tin theo yêu cầu Bộ Công an

Giám sát, thu thập dữ liệu số

 

Đây là công cụ kiểm soát xã hội thời kỹ thuật số.

 

6. Luật Tình báo 2011

Trao quyền cho lực lượng tình báo thuộc Bộ Công an:

Thu thập thông tin bí mật

Hoạt động nghiệp vụ đặc biệt

Sử dụng danh tính giả, cơ sở bí mật

7. Luật Cư trú 2020 & Luật Xuất nhập cảnh

Trao quyền:

Kiểm soát cư trú, hộ khẩu, căn cước

Giám sát di chuyển của công dân

Quyền từ chối xuất cảnh vì “lý do an ninh”

 

IV.          Những nghị định , thông tư nào của chính phủ trao thêm quyền lực cho CA?

Một số văn bản quan trọng:

 

Nghị định 136/2020: quyền kiểm tra Phòng cháy và chữa cháy (PCCC), xử phạt

Nghị định 144/2021: xử phạt hành chính trong an ninh trật tự

Thông tư 58/2020: đăng ký xe, kiểm soát phương tiện

Thông tư 65/2020: tuần tra, kiểm soát giao thông

Nghị định 03/2019: phối hợp quân đội – công an

Đây là các công cụ thực thi quyền lực hằng ngày.

 

V.             Ngoài khuông khổ luật pháp, CA còn có nhiều quyền lực phi luật pháp nữa hay không?

Dĩ nhiên là có trong chế độ độc tài CS Quyền lực không nằm trong luật nhưng có tính quyết định. Ngoài luật, công an còn có quyền lực từ:

NhữngQuy định của Bộ Chính trị

Ví dụ:

Quy định 22-QĐ/TW về công tác kiểm tra, giám sát

Quy định 80-QĐ/TW về phân cấp quản lý cán bộ

Quy định 89, 90 về tiêu chuẩn cán bộ

Đây là nguồn quyền lực ngoài hiến pháp – ngoài luật, nhưng có hiệu lực cao nhất trong hệ thống chính trị tức là đứng trên và ngoài hiến pháp và luật pháp, như luật của những nhóm siêu băng đảng Mafia bên trong quốc gia vậy.

VI.          Phương thức giải quyết vấn nạn công an trị là gì?

Muốn giải quyết vấn nạn này hầu gia tốc tiến trình dân chủ hóa và hiện đại hóa  đất nước, chúng ta phải áp dụng các nguyên tắc cải tổ hành chánh và chính trị sau đây:

1.    Nguyên tắc tảng quyền (deconcentration of powers):

Trong nội bộ của bộ công an quyền lực nên giao cho các cơ quan cấp địa phương quyết định rộng rãi hơn, thay vì tập trung tại trung ương.

2.    Nguyên tắc Phân quyền hàng ngang (lateral separation of powers):

Duyệt lại toàn bộ các bộ luật nêu trên và có những điều khoảng liên hệ thì trao quyền cho các cơ quan ngang cấp bộ thuộc về di trú, giao thông, thương mại, an ninh mạng, an ninh quốc nội (như FBI của Hoa Kỳ), an ninh quốc ngoại (như CIA của Hoa Kỳ) thay vì tập trung nơi một cơ quan siêu quyền lực như công an.

3.    Nguyên tắc Phân quyền hàng dọc tức địa phương phân quyền (vertical separation of powers):

Nghiên cứu và khi thích hợp thì phân quyền cho các địa phương như các tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương. Một ví dụ điển hình là luật giao thông. Tuy nhiên không nhất thiết chỉ giới hạn ở luật này.

4.    Hủy bỏ những điều luật vi phạm nhân quyền và dân quyền, đi ngược với tinh thần của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền  1948 và những công ước quốc tế liên hệ:

Trong BLHS 2015 nêu  trên hủy bỏ những tội hình sự như: “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”,“Tuyên truyền chống Nhà nước”,“Lợi dụng quyền tự do dân chủ” nhưng không chỉ giới hạn ở những tội này.

5.    Hình luật nghiêm cấm mọi quyền lực nằm ngoài phạm vi của luật pháp và hiến pháp từ mọi đảng phái hoặc phe nhóm:

Những  quy định ngoài luật pháp (extra judicial) nêu trên của đảng CSVN hay những đảng phái khác, tương tự, đều phải bị hiến pháp và luật pháp nghiêm cấm.

6.    Cuối cùng nhưng vô cùng quan trọng là tái định hình vai trò của quân đội và công an, trong hiến pháp tương lai thay thế hiến pháp 2013:

Lập tức hủy bỏ điều 67 HP nêu trên, và chỉ hiến định hóa quân đội như lực lượng vũ trang duy nhất bảo vệ tổ quốc. Hiến pháp tương lai sẽ phải khắc ghi quân đội như lực lượng vũ trang duy nhất bảo vệ tổ quốc. Công an sẽ không được hiến định hóa. Một sắc luật bình thường của quốc hội sẽ quy định vai trò của công an như một lực lượng bán vũ trang, với nhiệm vụ duy trì an ninh và trật tự, như trong những quốc gia dân chủ khác trên thế giới.

 

Tuesday, 23 June 2026

 

Tại sao các chế độ cộng sản đều theo quốc hội chế?

LS Đào Tăng Dực

Các mô hình dân chủ chân chính là gì?

Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.

Từ 2 mô hình đó nảy sinh một mô hình thứ 3 là mô hình hỗn hợp. Mô hình hỗn hợp này có khi thiên về tổng thống mạnh, như tại Pháp, có khi thiên về quốc hội mạnh như tại Đức, hoặc có khi phân chia quyền hành pháp giữa tổng thống và quốc hội.

Tuy nhiên tựu trung cũng chỉ có 2 mô hình dân chủ chính mà thôi.

Sự khác biệt giữa hai mô hình dân chủ này là gì?

Đó là mô hình tổng thống chế đặt căn bản trên tư tưởng của triết gia chính trị người Pháp Montesquieu với quan điểm Tam Quyền Phân Lập: có nghĩa là quyền lực chính trị chia làm 3 nhánh: Hành pháp (tổng thống), lập pháp (quốc hội) và tư pháp (Tối cao pháp viện và các tòa án) hoàn toàn độc lập với nhau. Nhân dân bầu cả hành pháp lẫn lập pháp.

Trong khi đó mô hình quốc hội chế đặt căn bản trên một quốc hội dân cử, và khái niệm chỉ đạo là “tính tối cao của quốc hội”(parliamentary supremacy). Ngoài ra, trong nghị trường quốc hội luôn có sự hiện diện của phe đa số nắm chính quyền (government) và còn có sự hiện diện của phe thiểu số đối lập chính thức( official opposition). Đảng nắm  đa số trong quốc hội sẽ thành lập nên chính quyền (tức hành pháp).  Như vậy hành pháp chỉ là sản phẩm của lập pháp (Quốc hội). Vì tính tối cao của quốc hội chế và không có tam quyền phân lập nên nhân dân chỉ bầu quốc hội là đủ.

Không có tam quyền phân lập thì tại sao dân chủ quốc hội chế như tại Anh Quốc, Canada và Úc lại là những nền dân chủ chân chính?

Lý do nằm ở 2 sự kiện chính:

1.    Có đối lập chính thức trong quốc hội và

2.    Sự độc lập của nghành tư pháp qua Hiến pháp thành văn (như tại Úc) hay bất thành văn (như tại Anh Quốc)

Có nghĩa là tuy không có tam quyền phân lập như tại Hoa Kỳ, nhưng quốc hội chế có đối lập chính thức trong quốc hội và có nhị quyền phân lập giữa lập pháp (quốc hội) và tư pháp.

Tại sao các chế độ độc tài cộng sản từ Liên Xô, các chế độ CS Đông Âu, đến Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn, Cuba, Lào đều theo quốc hội chế trên hình thức (dĩ nhiên không phải trong thực chất)?

Lý do thật đơn giản.

Đó là quốc hội chế dễ bị họ ngụy tạo và tiếm danh hơn.

Trước hết trong Hiến pháp 2013, điều 69 quy định rất long trọng:

“Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

Đây chỉ là chiêu trò tiếm danh quốc hội chế và CSVN, cũng như những chế độ CS khác sử dụng các kỹ thuật sau đây để ngụy tạo:

1.    Trước hết họ tránh xa mô hình tổng thống chế vì mô hình này đòi hỏi quá lộ liễu 2 điều kiện nền tảng: một là tam quyền phân lập rõ rệt. Hai là phải bầu cử 2 lần. Một cho hành pháp (tổng thống) và một cho lập pháp (quốc hội). Trong khi đó, nếu chọn mô hình quốc hội chế thì chỉ cần bầu cử lập pháp (quốc hội) là đủ. Khỏi bầu cử tới 2 cơ quan quyền lực, gây tranh cãi, rủi ro và tốn kém theo nhãn quan của họ.

2.    Sắp xếp (qua Mặt Trận Tổ Quốc hoặc một công cụ khác) để các ứng cử viên quốc hội toàn là đảng viên hoặc 90% đảng viên để vô hiệu hóa sự hiện diện của đối lập trong quốc hội.

3.    Một khi nắm trọn quốc hội trong tay thì họ dương cao ngọn cờ “tính tối cao của QH” qua điều 69, mà danh chánh  ngôn thuận lãnh đạo tuyệt đối. Từ tính tối cao này của QH, đảng CSVN nghiễm nhiên bố trí đảng viên vào hành pháp (CT nước, thủ tướng và nội các), tư pháp (tòa án nhân dân). Nhìn bề ngoài thì có tam quyền nhưng hoàn toàn không có phân lập.

4.    Với đa số áp đảo, đôi khi lên đến 99 hoặc 100%, họ sắp xếp cho quốc hội thông qua một bản HP vô hiệu hóa tính độc lập của tư pháp. Như vậy không còn nhị quyền phân lập (giữa QH và tòa án) như trong chế độ dân chủ quốc hội chế chân chính nữa.

5.    Để chắc ăn hơn và giảm tối thiểu tối đa tủi ro từ nhân dân, họ còn hiến định hóa luôn độc quyền lãnh đạo của đảng qua điều 4 hiến pháp, nguyên tắc tập trung dân chủ… như đảng CSVN đã làm.

Với một bản hiến pháp 2013, bóp méo mô hình quốc hội chế như trên, đảng CSVN chỉ cần mỗi 5 năm bầu cử quốc hội một lần và toàn dân như ba ba bị rơi vào rọ.

Đó chính là lý do tại sao các đảng CS rất yêu thích mô hình quốc hội chế.

 

Thursday, 18 June 2026

 

Khuynh tả và khuynh hữu: hai ý niệm nền tảng của chính trị đương đại.

LS Đào Tăng Dực

Tuy nền dân chủ đương đại có thể được mô tả như gồm có 3 yếu tố chính:

1.    Hiến định (hiến pháp là luật tối cao)

2.    Pháp trị (thượng tôn luật pháp) và

3.    Đa nguyên (quyền lực chính trị phát xuất từ nhiều tụ điểm khác nhau)

Nhưng bao gồm trong cấu trúc đó có 2 khuynh hướng chính trị nền tảng. Đó là khuynh hữu và khuynh tả.

Trong những năm gần đây, một sự chia rẽ trầm trọng xảy ra trong cộng đồng người Việt, nhất là tại Hoa Kỳ và lan tỏa ra tại hải ngoại lẫn quốc nội. Một số người Việt (tạm gọi là khuynh hữu) cho rằng những người ủng hộ Obama hay đảng Dân Chủ tại Hoa Kỳ (hay các đảng Lao Động tại Anh, Úc …) là “cánh tả” với hàm ý coi thường. Ngược lại cũng có một số người (tạm gọi là khuynh tả) cho rằng những người ủng hộ Trump hay đảng Cộng Hòa ( hay đảng Bảo thủ tại Anh, Tự Do tại Úc…) là “phát xít” với hàm ý chê bai tương tự.

Thật sự không những 2 nhóm người này, mà phần lớn chúng ta, đều không hiểu rõ thế nào là khuynh hữu và thế nào là khuynh tả.

Muốn tìm hiểu thêm, chúng ta nên ý thức rằng nền  chính trị đương đại chịu ảnh hưởng của 3 cuộc cách mạng lớn:

1.    Cuộc cách mạng giành độc lập của Hoa Kỳ kết thúc năm 1783 với Hòa Ước Paris công nhận nền độc lập của Hoa Kỳ. Từ đó nền dân chủ Hoa Ký qua hiến pháp lan tỏa khắp thế giới

2.    Cuộc cách mạng Pháp 1789 với quốc hội lập hiến cùng năm để quyết định vai trò của vua Louis 16 trong chế độ mới.

3.    Cuộc cách mạng Bolshevik của Lenin tại Nga năm 1917, thiết lập các chế độ CS trên thế giới.

Tuy cuộc cách mạng Pháp bị Napoleon thanh toán (1799) nhưng những tư tưởng chỉ đạo đã ảnh hưởng đến các nền dân chủ đương đại không kém cuộc cách mạng Hoa Kỳ.

Thật vậy một cách chính xác, 2 khái niệm khuynh tả và khuynh hữu trong chính trị đương đại phát xuất từ Quốc hội Lập hiến của Pháp năm 1789.

Khi tranh luận trong quốc hội này, những người muốn giữ quyền lực lớn cho vương quyền (ủng hộ chế độ quân chủ lập hiến, bảo vệ trật tự cũ) ngồi bên phải chủ tọa.

Những người muốn hạn chế hoặc xóa bỏ vương quyền (ủng hộ cộng hòa, bình đẳng, cải cách sâu rộng) thì ngồi bên trái chủ tọa.

Từ đó, hai khái niệm Right (hữu)  và Left (tả) ra đời , ban đầu chỉ là vị trí ngồi, nhưng dần trở thành ký hiệu tư tưởng chính trị.

Khuynh hữu thì thiên về:

-        Bảo vệ truyền thống

-        Ủng hộ trật tự xã hội có thứ bậc

-        Tôn trọng tôn giáo, quân đội, quyền lực trung ương

-        Ưa ổn định hơn thay đổi

-        Về kinh tế: ủng hộ sở hữu tư nhân, thị trường tự do

Khuynh tả thiên về:

-        Cấp tiến, cải cách

-        Ủng hộ bình đẳng xã hội

-        Giảm vai trò của tôn giáo trong chính trị

-        Mở rộng quyền công dân

-        Về kinh tế: can thiệp nhà nước, phúc lợi xã hội, bảo vệ người lao động

Điều trên chỉ là tổng quát. Cả nội dung tả khuynh hay hữu khuynh đều có thể thay đổi theo hoàn cảnh và thời gian.

Vì hoàn cảnh lịch sử, như đã trình bày, các khuynh hướng chính trị bảo thủ (khuynh hữu) Tây Phương thường chủ trương thiên về tư bản chủ nghĩa (nhưng không phải độc tài phát xít) và các khuynh hướng chính trị cấp tiến (khuynh tả) thường thiên về khuynh hướng xã hội chủ nghĩa (nhưng không phải độc tài cộng sản).

Sự khác biệt giữa tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa tuy phức tạp, nhưng có thể tóm lược như sau:

1. Tư bản chủ nghĩa có hậu quả tập trung tư bản vào tay một số cá nhân hay tập thể với động lực sáng tạo của cải (wealth creation).

2. Trong khi đó xã hội chủ nghĩa có hậu quả công bằng xã hội và nhu cầu tái phân phối của cải (wealth redistribution) là ưu tiên đối với họ.

Cả 2 khuynh hướng này đều được hiến pháp bảo vệ trong một nền dân chủ đa nguyên.

Các đảng phái chính trị, tùy theo chủ trương của mình, sẽ có chỗ đứng đích thực trong hàm phổ chính trị đó, cũng như những cung bậc khác nhau của những bản nhạc có chỗ đứng đích thực trong hàm phổ âm nhạc vậy.

Nền chính trị dân chủ chân chính vận hành như một bản đại hòa tấu trong đó sự tương tác, cộng sinh hài hòa là yếu tố quan trọng.

Những nốt nhạc trầm không thể loại bỏ những nốt nhạc bổng và ngược lại trong một bản đại hòa tấu. Tương tự, các khuynh hướng chính trị bảo thủ không thể loại bỏ các khuynh hướng cấp tiến hoặc ngược lại, trong một nền dân chủ chân chính.

Dĩ nhiên chúng ta có quyền khác biệt ý kiến, nhưng nên tránh các quá khích, cực đoan hay ngôn từ hoặc thái độ thù nghịch.

Khuynh tả cực đoan sẽ biến thành độc tài cộng sản và khuynh hữu cực đoan sẽ biến thành độc tài phát xít. Cả hai đều nguy hiểm cho nhân loại cả.

Các quốc gia dân chủ thật sự luôn tiến bộ vì biết dung nạp hài hòa cả 2 khuynh hướng này, trong khuông khổ một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên chân chính.

Sunday, 31 May 2026

 

Hiến pháp 2013 và những quy định “không giống ai” về trách nhiệm bảo vệ hiến pháp.

 

LS Đào Tăng Dực

Trong chính trị học, guồng máy chính quyền hay nhà nước dân chủ như quy định trong hiến pháp bao gồm 3 thực thể gọi là tam quyền phân lập: Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp.

I.               Vì tính tối cao của hiến pháp nên trách nhiệm bảo vệ hiến pháp là nền tảng không thế thiếu trong một nền dân chủ pháp trị chân chánh.

Chính quyền vận hành theo trình tự được quy định trong hiến pháp và  hiến pháp này luôn được bảo vệ bởi một định chế độc lập, giám sát sự vận hành của lập pháp và hành pháp. Định chế độc lập này thông thường là một Tối Cao Pháp Viện, đứng đầu ngành Tư Pháp.

Định chế độc lập này duyệt xét tính vi hiến, hay hợp hiến của:

1.    Các sắc luật của lập pháp (quốc hội) và

2.    Các tác động của hành pháp (chính phủ)

Trong thế giới đương đại, các nền dân chủ hiến định được chia thành 3 nhóm chính:

1.    Tổng thống chế (Mỹ, Brazil, Indonesia, Philippines, Đài Loan…)

2.    Quốc hội chế hay Nghị viện chế (Anh, Úc,Canada, Nhật, Hà Lan, Đan Mạch, Đức,Ấn Độ, Israel…)

3.    Hỗn hợp hay Bán tổng thống chế (Pháp, Ba Lan, Bồ Đào Nha…)

Trong những mô hình này, nếu chúng ta nêu ra câu hỏi: Trong hiến pháp, có một cơ chế nào tối cao, độc lập có trách nhiệm bảo vệ hiến pháp, vốn là nền tảng của mọi luật pháp quốc gia hay không?

Thì câu trả lời sẽ là một tiếng YES, tức là một sự khẳng định minh thị, không thể nhầm lẫn và nêu rõ giới hạn của trách nhiệm này.

 

II.            Trường hợp của Tổng thống chế như tại Hoa Kỳ thì có Tối Cao Pháp Viện:

Quyền này của TCPV phát xuất từ các điều sau đây của HP:

  • Điều III – trao quyền duyệt xét pháp lý.
  • Điều VI – quy định Hiến pháp là “luật tối cao của quốc gia”.
  • Án lệ Marbury v. Madison (1803) là nguồn gốc thực tế của quyền duyệt xét pháp lý này.

III.         Trường hợp quốc hội chế như:

 

1)    Canada có Hiến pháp thành văn, gọi là Constitution Act 1867

Điều 52 Quy định của Constitution Act 1867 quy định quyền này cho TCPV Canada

2)    Úc có các điều khoản  71, 75 và 76 của hiến pháp  Thiết lập High Court of Australia và trao thẩm quyền cho High Court trách nhiệm bảo hiến.

3)    Anh Quốc vì không có hiến pháp thành văn nên nằm ngoài phạm vi của bài này. Hơn nữa trách nhiệm của TCPV bị giới hạn ở kiểm soát tính hợp pháp của hành pháp, không kiểm soát lập pháp vì khái niệm “Quốc Hội là tối cao”.

 

IV.          Trường hợp mô hình hỗn hợp hay bán tổng thống chế như Pháp:

Pháp có điều khoản hiến pháp quy định cơ quan phán quyết tính hợp hiến không?

Có. Rất rõ ràng. 

Cơ quan phán quyết hiến pháp của Pháp là Hội đồng Hiến pháp (Conseil constitutionnel) và nó được quy định trực tiếp trong Hiến pháp 1958 (Đệ Ngũ Cộng hòa).

Điều 61 – Kiểm soát hiến pháp trước khi luật được ban hành (a priori review).

Điều 61-1 – Kiểm soát hiến pháp sau khi luật đã có hiệu lực (a posteriori review), gọi là QPC – Question Prioritaire de Constitutionnalité.

Hội đồng Hiến pháp có quyền gì?

Tuyên bố một đạo luật là vi hiến đưa đến kết quả là Luật đó không được ban hành (nếu kiểm soát trước) hoặc nếu đã ban hành thì bị bãi bỏ (nếu kiểm soát sau, qua QPC)

V.             Hiến Pháp 2013 của Việt Nam thì sao?

Tuy nhiên trong trường hợp của Việt Nam,  nếu chúng ta nêu ra câu hỏi: Trong hiến pháp, có một cơ chế nào tối cao, độc lập có trách nhiệm bảo vệ hiến pháp, vốn là nền tảng của mọi luật pháp quốc gia hay không?

Thì câu trả lời sẽ là “YES but NO” hay là “NO but YES”, tiếng Việt nôm na là: “CÓ nhưng mà như KHÔNG”, hoặc “KHÔNG  nhưng mà không biết chừng CÓ”.

Tại sao có chuyện buồn cười như thế trong một văn kiện nền tảng của quốc gia dân tộc?

Lý do nằm nơi nội dung điều 119 của Hiến Pháp 2013.

Nguyên văn như sau:

Điều 119. 

“Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất.

Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp.

Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý.

Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp.

Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định.”

Tuy văn từ nghe dữ dằng như vậy (Mọi hành vị vi phạm hiếp pháp đều bị xử lý)  nhưng trách nhiệm bảo hiến lại là tự nguyện tức nhẹ hều.

Nghĩa là:

1.    Quốc hội bao gồm Ủy Ban Thường vụ QH phải bảo vệ Hiến pháp bằng tự nguyện ra những sắc luật không vi hiến.

2.    Chủ tịch nước tự nguyện bảo vệ Hiến pháp qua quyền công bố luật, quyền đề nghị xem xét lại luật.

3.    Chính phủ: bao gồm thủ tướng và các thuộc cấp trong bộ máy hành chính tự nguyện  bảo vệ Hiến pháp bằng tổ chức thi hành Hiến pháp và rà soát văn bản dưới luật.

4.    Tòa án nhân dân tự nguyện bảo vệ Hiến pháp qua xét xử, nhưng không có quyền tài phán hiến pháp.

5.    Viện kiểm sát nhân dân tự nguyện bảo vệ Hiến pháp qua kiểm sát hoạt động tư pháp.

6.    Các cơ quan khác của Nhà nước tự nguyện bảo vệ Hiến pháp trong phạm vi chức năng chuyên ngành .

7.    Cá nhân mỗi công dân (Nhân dân)  tự nguyện bảo vệ Hiến pháp bằng giám sát xã hội, khiếu nại, tố cáo, bầu cử.

Nếu không một thực thể nào tự nguyện bảo hiến thì coi như “trớt quớt” luôn vì không có một cơ chế độc lập bảo hiến nào xử lý hay chế tài cả.

Điều này thật không tưởng như thiên đường XHCN vậy, có thể so sánh với tình trạng luật giao thông trong đó, mọi người đều có trách nhiệm tự nguyện lái xe đúng luật, nhưng nếu có người phạm luật gây tai nạn dù chết người thì cũng không có một cơ quan đệ tam nhân nào đứng ra xử lý cả. Điều này áp dụng luôn cho những ác nhân của xã hội như trộm cướp, hiếp dâm, giết người… đều trên cơ sở tự giác và tự nguyện cả.

VI.          Như vậy chúng ta có thể kết luận rằng Hiến Pháp 2013 hoàn toàn không chấp nhận một định chế độc lập để tài phán về tính vi hiến hay hợp hiến hay không?

Câu trả lời lại là y như cũ: tức là  “YES but NO” hay là “NO but YES”, tiếng Việt nôm na là: “CÓ nhưng mà như KHÔNG”, hoặc “KHÔNG  nhưng mà không biết chừng CÓ”.

Tại sao CSVN lại ại lạ lùng như thế trong một văn kiện pháp lý mà cố TBT Nguyễn Phú Trọng cho là trí tuệ  tập thể và niềm tự hào của đảng?

Lý do là vì cuối điều 119 của HP, CSVN thòng thêm một câu nhỏ nữa.

Đó là câu: “Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định.”

Chính vì thế trả lời CÓ với câu hỏi trên thì sai vì đâu thấy cơ chế nào?

Trả lời KHÔNG cũng không ổn vì có nhiều thực thể từ quốc hội đến chính phủ đến nhân dân tự nguyện bảo hiến mà! Thêm vào đó hiến pháp ghi rõ ràng là “cơ chế bảo vệ HP do luật định”. Nói không thì nếu ngày mai, đảng đổi ý chấp hành điều 119 ra luật thành lập cơ chế bảo hiến thì sao?

Có nghĩa là hiến pháp rõ ràng có ra lệnh cho Quốc Hội bù nhìn của đảng ra một sắc luật, dựa trên điều 119 để thành lập một cơ quan tài phán, bảo vệ cho hiến pháp.

Đã là một mệnh lệnh của hiến pháp thì đảng phải tuân hành. Nhưng tại sao đã 13 năm qua từ năm 2013 đến nay chưa có cơ chế bảo hiến? Sự thiếu tuân hành một mệnh lệnh của HP tự nó là một sự vi hiến trắng trợn rồi. Tại sao đảng muối mặt vi hiến như vậy?

Câu trả lời thì rất nhiều, nhưng tựu trung là y như những chế độ độc tài khác, Đảng CSVN cố tình lập ra một bản hiến pháp mập mờ, đầy mâu thuẫn nội tại và sử dụng sự mập mờ này như một quốc sách để đánh lận con đen và cai trị dân bằng luật rừng mà thôi.

 

Sunday, 24 May 2026

Viễn tượng sụp đổ của đảng CS Cuba và tương quan với CSVN


LS Đào Tăng Dực

Viễn tượng sụp đổ của đảng Cộng sản Cuba đang trở nên rõ rệt, và điều này liên hệ rất  nhiều với các chế độ cộng sản còn lại, trong đó có CSVN. Dù mọi chế độ độc tài đều che giấu tội ác, các chế độ cộng sản đặc biệt để lại di sản tàn khốc và kinh tởm nhất cả trong quá khứ lẫn hiện tại. Bước sang thế kỷ 21, các đảng CSTQ, CSVN, Lào và Triều Tiên vẫn dối trá tuyên bố kiên định XHCN, nhưng phía sau là những tró lừa bịp che giấu, chờ ngày lịch sử phơi bày.

 

1. Tại sao CS Cuba trên bờ vực sụp đổ?

Sau nhiều thập niên giả vờ xây dựng XHCN trong mù quáng, Cuba rơi vào khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng: sản xuất kiệt quệ, năng lượng thiếu hụt, lương thực khan hiếm. Lệnh cấm vận của Mỹ và sự suy sụp của đồng minh Venezuela khiến tình hình thêm bi đát. Dân chúng đối mặt đói nghèo và tuyệt vọng.

Trong bối cảnh đó, một biến cố mang tính đột biến xảy ra: Bộ Tư pháp Hoa Kỳ truy tố cựu Chủ tịch Raúl Castro, 94 tuổi, vì liên quan vụ bắn hạ hai máy bay dân sự của tổ chức Brothers to the Rescue (BTTR) năm 1996 trên vùng biển quốc tế, khiến bốn người thiệt mạng, gồm ba công dân Mỹ. Đây là lần đầu tiên sau gần 70 năm một lãnh đạo cấp cao Cuba bị truy tố tại Mỹ.

Theo cáo trạng, tình báo Cuba đã cài người vào BTTR để thu thập đường bay, tạo điều kiện cho quân đội Cuba bắn hạ máy bay. Raúl Castro và năm đồng phạm bị buộc tội âm mưu giết công dân Mỹ, giết người và phá hủy máy bay. Dù Raúl đã rời chức vụ từ 2021, Mỹ vẫn coi ông là trung tâm quyền lực thực tế. Việc truy tố không chỉ mang ý nghĩa pháp lý mà còn là đòn đánh trực diện vào tính chính danh của chế độ Cuba, gửi thông điệp rằng Mỹ sẽ truy cứu trách nhiệm dù thời gian đã trôi qua.

2. Đòn đánh vào GAESA – “túi tiền” của chế độ Cuba quan trọng ra sao?

 

Áp lực từ Mỹ không dừng lại ở truy tố Raúl Castro. Ngoại trưởng Marco Rubio tiếp tục nhắm vào GAESA, tập đoàn quân đội kiểm soát 40–70% nền kinh tế Cuba. Ngày 21/5/2026, Mỹ trục xuất Adys Morera, chị gái của Chủ tịch điều hành GAESA, sau khi thu hồi thẻ xanh vì cho rằng sự hiện diện của bà đe dọa an ninh quốc gia.

Adys nhập cảnh Mỹ năm 2023 và tham gia quản lý các công ty bất động sản tại Florida. ICE xác định bà có liên hệ trực tiếp với mạng lưới tài chính của GAESA – tổ chức bị cáo buộc nắm giữ tới 20 tỉ USD tài sản bất hợp pháp. Việc trục xuất dựa trên điều khoản cho phép loại bỏ thường trú nhân gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chính sách đối ngoại.

Động thái này nhằm ba mục tiêu chiến lược:

-        Đánh thẳng vào GAESA – trụ cột tài chính của quân đội Cuba.

-        Răn đe gia đình quan chức Cuba đang sống hoặc đầu tư tại Mỹ.

-        Tăng áp lực lên Havana trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế.

-         

3. Tại sao GAESA là  “quốc gia trong quốc gia” của gia đình Castro?

 

GAESA là công cụ quyền lực quan trọng nhất của gia đình Castro, được Raúl Castro thành lập năm 1995 để tạo nguồn tài chính độc lập cho quân đội sau khi Liên Xô sụp đổ. Tập đoàn này kiểm soát du lịch, ngân hàng, kiều hối, bán lẻ, viễn thông, cảng biển và ngoại thương – tức toàn bộ nguồn thu ngoại tệ của Cuba.

Quyền lực GAESA nằm trong tay ba thế hệ Castro:

Raúl Castro – người sáng lập, biến GAESA thành tổ chức không chịu kiểm toán, hoạt động ngoài giám sát nhà nước.

Luis López- Calleja con rể Raúl, lãnh đạo GAESA 26 năm, kiểm soát toàn bộ dòng tiền ngoại tệ và các công ty offshore.

Raúl Guillermo Castro – cháu nội Raúl, phụ trách an ninh và giám sát mạng lưới tài chính.

Alejandro Castro Espín – con trai Raúl, tướng tình báo, có ảnh hưởng lớn đến các quyết định chiến lược.

GAESA nắm 14–18 tỉ USD tài sản toàn cầu, không cần công bố báo cáo tài chính với chính phủ, và là nền tảng giúp gia đình Castro duy trì quyền lực ngay cả khi không còn giữ chức vụ chính thức.

 

4. Tương quan với CSVN và CSTQ là gì?

 

Cơ chế quyền lực của CSVN và CSTQ có nhiều điểm tương đồng với Cuba:

-        Doanh nghiệp nhà nước được duy trì như công cụ nuôi dưỡng quyền lực và lợi ích nhóm qua chủ trương kinh tế thị trường định hướng XHCN.

-        Doanh nghiệp tư nhân sân sau của các lãnh đạo được ưu ái, trong khi doanh nghiệp độc lập bị siết thuế, thanh tra hoặc phong sát.

-        Tài sản của giới lãnh đạo thường nằm trong các mạng lưới kinh tài khó kiểm soát, tương tự GAESA.

Vì vậy, chiến lược của Mỹ đối với Cuba – kết hợp truy tố lãnh đạo và đánh vào mạng lưới tài chính – có thể trở thành mô hình áp dụng cho các chế độ cộng sản khác. Khi tài sản của giới lãnh đạo bị phong tỏa, thân nhân bị trục xuất và tội ác bị truy cứu, nền tảng quyền lực của họ sẽ lung lay.

5. Kết luận

Cuba đang bước vào giai đoạn đối đầu với định mệnh. Việc truy tố Raúl Castro và tấn công GAESA là những đòn đánh chưa từng có, làm suy yếu nghiêm trọng tính chính danh và nguồn tài chính của chế độ. Điều này mở ra một sách lược tiền lệ quan trọng: trong tương lai, các lãnh đạo CSVN hay CSTQ  cũng có thể đối mặt với những truy tố hình sự quốc tế song hành với các biện pháp chế tài nhắm vào tài sản gia đình kết xù của họ.

Đó có thể là con đường hiệu quả nhất để thúc đẩy tự do, dân chủ và nhân quyền cho những dân tộc bất hạnh, đang chịu sự cai trị của các chế độ độc tài cộng sản còn sót lại trên thế giới.