Wednesday, 15 April 2026

 

Bầu cử Hungary, Eo Biển Hormuz và tương quan quyền lực giữa các siêu cường

LS Đào Tăng Dực

www.daotangduc.blogspot.com

Các siêu cường trong bài này gồm Hoa Kỳ, Liên Âu (EU), CSTQ và LB Nga theo thứ tự sức mạnh tổng quát với Hoa Kỳ là siêu cường số một.

Hai biến động liên hệ gần nhất là cuộc bầu cử tại Hungary và quyết định của Hoa Kỳ, chính mình phong tỏa và kiểm soát Eo Biển Hormuz thay vì để giáo phiệt Iran kiểm soát.

I.               Bầu cử Hungary.

Cuộc bầu cử quốc hội Hungary đã gây chấn động toàn cầu.

Kết quả cho đến ngày 14-15 tháng 4, 2026 là đảng  TISZA của tân thủ tướng tương lai Peter Magyar được 136-138 ghế, Fidesz của cựu TT Voctor Orban được 55-57 ghế, Mi Hazánk được 6 ghế, trong một quốc hội gồm 199 ghế. Tức TISZA có trên 2/3 số ghế và có thể tự mình tu chính hiến pháp, thay đổi toàn diện nền tảng những luật pháp và định chế tập quyền mà chính quyền Orban đã thiết lập suốt 16 năm qua.

Chính quyền mới với tân tt Magyar cũng minh thị bày tỏ lập trường thân EU- NATO và nới xa LB Nga . Đối với CSTQ thì TISZA không chủ trương đối nghịch nhưng sẽ dè dặt , minh bạch và cân bằng hơn chính quyền Orban.

Trong suốt cuộc vận động bầu cử, TISZA được sự ủng hộ của khối EU trừ Slovakia, trong khi Fidesz được sự ủng hộ của Putin, và TT Trump. Phó TT JD Vance chính thức thăm viếng ủng hộ Orban. Mặc dầu CSTQ không chính thức ủng hộ phe nào, nhưng báo chí TQ ủng hộ Orban rõ rệt.

Tuy Hungary chỉ là một quốc gia tương đối nhỏ với dân số gần 10 triệu, nhưng vì vị trí địa dư và là thành viên của khối Liên Âu (EU) cũng như  NATO, nên có ảnh hưởng địa chính trị vượt xa tầm vóc của mình. Hungary theo quốc hội chế và Đảng Fidesz dưới sự lãnh đạo của TT Victor Orban đã liên tục nắm quyền 16 năm, tức 4 nhiệm kỳ quốc hội. Hầu như, dưới sự lãnh đạo của Ông, Hungary là quốc gia hiếm hoi của Liên Âu và Nato, ủng hộ cho TT Putin của LB Nga và Tập Cận Bình của CSTQ, cản trở những sách lược quan trọng của EU và NATO liên hệ đến Ukraine trong cuộc chiến chống lại sự xâm lược của Putin.

 

A.   Lợi thế cho EU:

Với chính quyền Peter Magyar, EU từ nay sẽ củng cố nội bộ như một khối đồng nhất và đoàn kết hơn để đối diện với Nga Sô. Chính quyền mới và khối này cần giải quyết một số vấn nạn Orban để lại như sau:

1.    Thương thuyết để giải tỏa khoảng 17 tỷ Euro dành cho Hungary bỡi vì Orban không đáp ứng những đòi hỏi của Brussels về cải tổ pháp quyền, độc lập của tư pháp, tự do học thuật, luật tỵ nạn và quyền lợi của những người LGBTQ.

2.    Ngoài ra Hungary còn chờ EU chấp nhận Kế hoạch quốc phòng trị giá 16 tỷ euro trong khuôn khổ SAFE, một chương trình hỗ trợ bằng các khoản tiền cho vay.

3.    Đối với Tân Thủ Tướng, các chi khoản trên là ưu tiên và hy vọng rằng với đa số trên 2/3 tại quốc hội, Ông có thể thông qua những đạo luật cần thiết để cải tổ và đáp ứng những yêu cầu của EU.

4.    Ngược lại EU kỳ vọng Magyar sẽ đảo ngược sự phủ quyết của Hungary đối với đề nghị của EU cho Ukraine vay 90 tỷ Euro và 6.6 tỷ Euro viện trợ quân sự cho Ukraine.

 

B.   Thiệt hại cho CSTQ:

Dưới thời TT Orban, Hungary cũng là một cầu nối chiến lược quan trọng cho sách lược Vành Đai và Con Đường (Belt & Road initiative) của CSTQ hầu bành trướng ảnh hưởng đến Âu Châu. Orban  đã ký nhiều hiệp ước với công ty Huawei, hợp tác về kỹ thuật và kiểm soát (kể  cả kiểm soát các hoạt động của người dân và thu thập thông tin gián điệp cũng như phản gián,) và ưu tiên cho những công ty chuyên về chiến lược của CSTQ.

Những công trình và dự án vô tư của TQ như đường sá, cầu cống, nhà máy có thể không bị ảnh hưởng vì thay đổi chính quyền. Nnhưng những yêu cầu của EU đối với Hungary về cải tổ pháp quyền, nhân quyền, dân quyền sẽ gây trở ngại cho những hiệp ước về điện tử, kỹ thuật giám sát v..v..của CSTQ.

Một cách tổng quát, thay đổi chính trị tại Hungary không gây thiệt hại quá nhiều cho CSTQ, nhưng các biến cố tại Iran đã và sẽ gây thiệt hại lớn về ý thức hệ độc tài cũng như địa chính trị và kinh tế, Lý do chính là vì cả Hungary lẫn EU đều không coi CSTQ là đối thủ và ngược lại. Còn Hoa Kỳ và CSTQ đã và sẽ là những đối thủ chiến lược trong ngắn hạn lẫn dài hạn.

 

C.   Thiệt hại cho LB Nga:

Putin và LB Nga là thiệt hại nhiều nhất vì đã đầu tư hằng chục tỷ Mỹ Kim vào chế độ Orban từ  kinh tế, địa chính trị , hạ tầng cơ sở, năng lượng. Bây giờ chỉ qua một đêm là đảo ngược thế cờ. Dĩ nhiên Orban đã tốn 16 năm để củng cố quan hệ với Nga. Chính phủ Magyar cũng cần thời gian để xoay chuyển, nhất là hạ tầng cơ sở năng lượng đã quá lệ thuộc vào Nga. Tuy nhiên, chính quyền mới bất lợi cho Nga rõ rệt, sẽ đưa đến hậu quả tiêu cực cho Nga trên chiến trường Ukraine tương lai có thể gây ra sụp đổ của chế độ độc tài Putin, hay xa hơn nữa là sự phân hóa của LB Nga tương tự LBXV thủa xưa.

Bầu cử tại Hungary còn có thể có kết quả dây chuyền bất lợi thêm cho Nga tại Slovakia, một đồng minh thứ nhì của Putin tại EU. Tuy Slovakia, dân số chỉ 5.5 triệu, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Robert Fico, không tích cực ủng hộ Nga bằng Orban, nhưng cũng gây trở ngại không ít cho EU. Sự thảm bại của Orban có thể là một tiếng chuông cảnh tỉnh Fico rằng thân thiết với Putin có thể là một liều độc dược. Sách lược đối với EU của TT Fico sẽ phải mềm mỏng hơn nếu không muốn nhân dân trừng phạt trong cuộc bầu cử tới. Trong tương lai rất gần, có thể Nga sẽ trắng tay vì mất thêm đồng minh cuối cùng tại EU.

 

II.            Biến động tại Eo Biển Hormuz của Iran:

Tuy nhiên biến động tại Iran, nhất là quyết định của Hoa Kỳ phong tỏa Eo Biển Hormuz, gây thiệt hại trầm trọng cho cả LB Nga lẫn CSTQ. Sự phong tỏa tập chú vào những thuyền bè nhập cảng, hoặc rời cảng Iran, hoặc nộp tiền hải lộ cho Iran hầu cắt đứt nguồn tài chánh của chế độ giáo phiệt này.Mục tiêu dài hạn của Hoa Kỳ lại là khai thông giao lưu qua eo biển cho toàn thế giới, không để cho Iran phong tỏa và giữ quyền chọn lựa quốc gia nào được hay không được quyền đi qua..

A.   Thiệt hại của LB Nga:

LB Nga bị thiệt hại nặng vì mất đi một đồng minh địa chính trị và quân sự tiếp tay cho cuộc chiến tại Ukraine vốn là một cuộc chiến sống còn cho cả hai.

Tuy nhiều bình luận gia quốc tế cho rằng giá dầu gia tăng có lợi nhiều cho Nga. Nhưng trên thực tế, ngân sách 2026 của Nga vẫn khủng hoảng vì Nga không hưởng lợi tức đáng kể với các lý do sau đây:

1. Nga phải bán dầu với mức chiết khấu lớn do thị trường bị giới hạn vì các lệnh trừng phạt.

2. Chi phí vận chuyển của Nga tăng mạnh khi thị trường bảo hiểm rủi ro vì căng thẳng tại Hormuz.

3. Nga thiếu công suất lọc dầu sau khi bị Ukraine tấn công các cơ sở sản xuất và lọc dầu hạ tầng.

4. Trung Quốc và Ấn Độ là 2 khách hàng lớn nhất tận dụng tình thế để ép giá

5. Nga bị hạn chế về hạ tầng xuất khẩu vì đường ống sang châu Âu bị giảm mạnh, cảng Baltic và Biển Đen có giới hạn công suất, tàu chở dầu bị kiểm soát và theo dõi chặt hơn.

6. Giá dầu tăng làm tăng chi phí nhập khẩu các hàng hóa khác vào Nga để duy trì nền kinh tế

7. Đồng rúp giảm giá mạnh, làm giảm hiệu quả của doanh thu dầu

8. Nga phải bán dầu qua trung gian, mất thêm phần chia sẻ lợi nhuận

9. Giá dầu tăng làm các nước khác tăng sản lượng, giảm lợi thế của Nga

10. Tính chất “ngắn hạn” của cú sốc Hormuz làm doanh nghiệp Nga không dám mở rộng

 

B. CSTQ thì bị thiệt hại nặng nề hơn Nga nữa vì 10 lý do sau đây:

Tuy CSTQ có những tuyên bố mạnh miệng ủng hộ Iran nhưng họ có những yếu điểm quan trọng:

1) Trung Quốc phụ thuộc nặng vào dầu Trung Đông và phong tỏa Hormuz là cú sốc trực tiếp. Khoảng 40–45% dầu nhập khẩu của Trung Quốc đi qua Hormuz.

2) Giá dầu tăng làm tăng chi phí sản xuất của toàn bộ nền kinh tế Trung Quốc

3) Trung Quốc không thể chuyển sang nguồn thay thế nhanh vì:

- Không có đường ống lớn từ Trung Đông

- Không thể tăng nhập LNG nhanh vì hạn chế hạ tầng

- Không thể tăng nhập dầu Nga quá nhiều vì rủi ro trừng phạt và công suất vận chuyển

4) Trung Quốc bị kẹt giữa rủi ro địa chính trị và rủi ro kinh tế. Khi Hoa Kỳ phong tỏa Hormuz:

- Trung Quốc không thể đối đầu trực tiếp

- Nhưng cũng không thể đứng ngoài vì lợi ích năng lượng bị đe dọa

- Các nước Trung Đông thân Mỹ sẽ ưu tiên ổn định với Washington và Trung Quốc rơi vào thế bị động chiến lược.

5) Chi phí bảo hiểm và vận tải tăng mạnh đối với tàu Trung Quốc

6) Trung Quốc lo ngại Mỹ dùng Hormuz như “đòn bẩy chiến lược” vì Hoa Kỳ kiểm soát phần lớn hải quân ở vùng Vịnh và dễ dàng biến Hormuz trở thành điểm yếu chiến lược của Trung Quốc.

7) Tác động dây chuyền lên kinh tế Trung Quốc và Tăng trưởng GDP bị ảnh hưởng tiêu cực.

8) Trung Quốc phải cạnh tranh với Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc để mua dầu

mất ưu thế mua dầu giá rẻ.

9) Các dự án chiến lược của Trung Quốc ở Trung Đông bị gián đoạn và ảnh hưởng đến chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Trung Đông.

10) Trung Quốc lo ngại bị “kẹt” nếu xung đột kéo dài phải xả kho dự trữ chiến lược .Kho dự trữ chỉ đủ 60–90 ngày.Rủi ro an ninh năng lượng nghiêm trọng.

III. Kết luận:

Chính vì thế, 2 biến cố quan trọng vừa qua là cuộc tổng tuyển cử tại Hungary và phong tỏa Eo Biển Hormuz của Hoa Kỳ, không những làm thế giới tự do mạnh hơn, làm Iran kiệt quệ tài chính, có thể đưa đến sụp đổ chế độ, làm suy yếu trục độc tài tội ác Nga- Iran- CSTQ, mà còn là một lời cảnh cáo nghiêm khắc đối với những chế độ phản dân chủ còn lại như CS Cuba, CS Bắc Hàn, CS Lào và CSVN.

Saturday, 11 April 2026

 

Văn Hóa dân tộc  và nhận định chính trị

LS Đào Tăng Dực

 

Tuy vị trí địa dư của chúng ta là Đông Nam Á, nhưng khác với Lào, Cam Bốt, Thái Lan, Miến Điện, văn hóa dân tộc của chúng ta là văn hóa Đông Á cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore. Bàn tay và khối óc của chúng ta do nền văn hóa này tôi luyện từ nhiều ngàn năm.

I.                 Văn hóa gồm những yếu tố chính nào và dạy cho chúng ta những gì?

Nền văn hóa VN bao gồm 3 truyền thống văn hóa chính là Phật Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo trong nhiều ngàn năm lịch sử và trong giai đoạn tiếp xúc với các quốc gia Tây Phương, thêm văn hóa Thiên Chúa Giáo.

Các truyền thống văn hóa này ảnh hưởng rất nhiều đến bản chất của chúng ta và từ đó chúng ta rút ra những kim chỉ nam cho cuộc sống như sau:

1.      Tính trung dung (theo Khổng Giáo) hoặc trung đạo (theo Phật Giáo). Đó là nên tránh mọi cực đoan trong nhận thức và hành xử. Tin tưởng quá mức vào một chủ thuyết hay ý thức hệ rồi muốn tiêu diệt tất cả mọi quan điểm trái ngược, hoặc sùng bái một cá nhân hoặc bài bác một cá nhân lãnh tụ quá mức, đều đi ngược với tinh thần trung dung này.

 

2.      Tinh thần trách nhiệm (theo Khổng Giáo). Điều này không nhất thiết phát xuất từ quan điểm của Nho Giáo (Thành ý, chính tâm, cách vật, trí tri, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ) mà mọi nền văn hóa đều đòi hỏi tinh thần trách nhiệm như một con người trong xã hội, từ Hy lạp cổ xưa, đến Ai Cập, La Mã, Tây Âu…Hình như trong thiên nhiên các loài vật từ sâu kiến ong đến các loài khác cũng có trách nhiêm tương tự. Là người VN, chúng ta cũng không thể chối bỏ trách nhiêm đối với bản thân, gia đình, bạn hữu, dân tộc…

 

 

3.      Lòng từ bi (Phật Giáo) hay bác ái (Thiên Chúa Giáo). Loài người khác với loài vật ở điểm này. Mới đây, nhiều nhà nhân chủng học lập luận rằng, ngoài sự kiên loài người vươn lên thống trị muôn loài, nhờ khối óc  mà còn nhờ rất nhiều vào lòng từ tâm lân mẫn, giúp đỡ những đồng loại yếu hơn mình nữa. Trong một xã hội nhiều bất công, chúng ta luôn có trách nhiệm giúp những người yếu hơn hay thiếu may mắn hơn mình. Phật Giáo còn đi xa hơn nữa. Lòng từ bi còn nới rộng cho tất cả mọi chúng sinh hữu tình trong hoàn vũ.

 

4.      Cuối cùng là chấp nhận thuận theo duyên (Phật giáo) hay thuận theo tự nhiên (Lão Trang). Tức là sau khi đã cố gắng hết mình mà vẫn không có kết quả như ý, thì chúng ta vui vẻ chấp nhận thực tại trước mắt. Nói một cách nôm na là mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Điều này áp dụng cho những chuyện lớn như một lý tưởng chúng ta đeo đuổi cà đời hoặc trung bình như  một tình yêu không được đáp ứng, hoặc nhỏ như  một cố gắng bất thành khi muốn thuyết phục một đối tượng khác quan điểm với mình.

Bốn yếu tố tạo ra kim chỉ nam trên có 2 đặc điểm chung. Một là cộng sinh (co-existent) tức trong yếu tố này có các yếu tố kia và tương tùy (inter-dependent) tức yếu tố này hưng thịnh thì yếu tố kia hưng thịnh và ngược lại. 

Nếu mọi người VN trong nước lẫn hải ngoại áp dụng những tiêu chuẩn văn hóa này thì chúng ta đã không có những chia rẽ sâu sắc đưa đến sự đổ vỡ quan hệ giữa những người ủng  hộ TT Trump và những người không ủng hộ hoặc chống lại ông.

 

II.               Nền chính trị tây phương dạy cho chúng ta điều gì:

Ngoài văn hóa Đông Á chúng ta còn học hỏi được từ nền chính trị hiện đại Tây Phương.  Nền chính trị này dạy cho chúng ta rất nhiều điều hầu xây dựng dân chủ chân chánh và hiện đại hóa đất nước.

Tôi đã viết nhiều về nền chính trị tây phương (xem National Library of Australia website và www.daotangduc.blogspot.com).

Hai bài học chúng ta cần nhất trong nhận thức từ nền chính trị này là:  

1.      Thứ nhất, nhu cầu phân biệt rõ đâu là cứu cánh (ends) , đâu là phương tiện (means).  

2.      Thứ nhì, nhu cầu phân biệt đâu là chính thể hay chế độ chính trị (regime),  đâu là quốc gia dân tộc (nation-state).

Các tác phẩm chính trị nêu trên đều phân biệt rõ rằng quan điểm dân chủ Hiến Định, Pháp Trị và Đa Nguyên (phát xuất từ Tây Phương) chỉ là phương tiện. Nền văn hoa ngàn đời của dân tộc luôn là cứu cánh.

Nhiều trí thức tây phương và người Việt chúng ta, kể cả  nhiều chính trị gia lão luyện, vô tình hay cố ý vẫn nhầm lẫn tai hại trên cả hai nhu cầu.

Trước hết, Ông Hồ Chí Minh, đã coi lý tưởng thế giới đại đồng của Đệ Tam Quốc Tế CS là cứu cánh, Quốc Gia Dân Tộc và đảng CSVN cũng chỉ là phương tiện. Các thế hệ TBT CSVN khác nhau, tuy bề ngoài tung hô yêu nước, nhưng đối với họ, đảng CSVN mới là cứu cánh, quốc gia dân tộc chỉ là phương tiện. Gần đây, tân TBT Tô Lâm còn đi xa hơn nữa. Ông xuất thân từ công an và đã ấp ủ mưu đồ hoàn tất chế độ công an trị trên toàn dân. Trong tâm thức của ông, chỉ có định chế công an là cứu cánh, còn quốc gia dân tộc, hay ngay cả đảng CSVN, cũng chỉ là phương tiện mà thôi. Những nhận thức sai lầm này của các thế hệ lãnh đạo CSVN là gốc rễ cho sự lầm than quốc gia dân tộc qua nhiều thế hệ.

Nhiều người trong chúng ta, nhất là tỵ nạn CS và sinh sống tại hải ngoại, cũng nhầm lẫn tương tự. Chúng ta quên rằng, dân chủ hóa VN mới là cứu cánh, các chính đảng, các lãnh tụ chính trị tại các quốc gia sở tại, đều chỉ là phương tiện. Từ các đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa tại Hoa Kỳ, các đảng Tự  Do hay Lao Động tại Úc, các đảng Tự Do hay Bảo Thủ tại Canada, các đảng Bảo Thủ hay Lao Động tại Anh Quốc, hay các chính đảng tương tự tại lục địa Âu Châu, lẫn các lãnh đạo của họ, đều là những phương tiện để chúng ta sử dụng. Cứu cánh của chúng ta là dân chủ hóa VN. Chúng ta không nên bám víu bất cứ một chính đảng hay cá nhân chính trị gia nào. Các phương tiện đó đều có ưu và khuyết điểm. Chúng ta phải sử dụng một cách thiện xảo để phục vụ cho cứu cánh của chúng ta. Nếu nhận định rõ ràng như thế, chúng ta sẽ luôn là một khối đoàn kết, dù quan điểm có khác biệt.

Nhầm lẫn thứ nhì cũng tai hại không kém. Trước hết, phần lớn giới trí thức, các trường đại học, truyền thông quốc tế, và ngay trong nước VN, từ trước chiến tranh VN đến tận hôm nay , luôn nhầm lẫn một cách ngây thơ giữa chế độ (regime) và quốc gia dân tộc (nation-state). Dĩ nhiên các chế độ độc tài như giáo phiệt, quân phiệt, nhất là CS hết sức khuyến khích và lợi dụng sự ngây thơ này. Chính sự nhầm lẫn này là nguyên nhân của phong trào phản chiến lớn lao, đưa đến sự sụp đổ của VNCH ,vì họ ngộ nhận rằng sự chiến thắng của chế độ CSVN đồng nghĩa với sự chiến thắng của toàn dân Việt đạp đổ xâm lược Mỹ, cũng như thực dân Pháp trước đó. Họ hoàn toàn không biết rằng, họ đã tiếp tay cho một bạo quyền,  tước bỏ tuyệt đối, quyền tự quyết của cả một dân tộc.

Sai lầm đó vẫn còn tiếp tục ngày hôm nay trong trường hợp của CS Cuba và Giáo Phiệt Iran. Nhiều người chống Hoa Kỳ vì họ cho rằng Hoa Kỳ đang hiếp đáp những dân tộc yếu hơn mình trong khi quên đi rằng, cả 2 quốc gia đã bị các chế độ phi nhân cướp đi quyền tự quyết dân tộc. Chỉ có làm suy yếu tận gốc hoặc hủy diệt các chế độ này, thì 2 quốc gia  liên hệ mới thực sự có cơ hội vươn lên từ đống tro tàn và sánh vai cùng các quốc gia  dân chủ trên thế giới. Nhiều người VN chúng ta đã kinh qua thảm họa CS nhưng vẫn tiếp tục sai lầm.

Nếu chúng ta ý thức được 4  kim chỉ nam của nền văn hóa dân tộc và 2 khả năng phân biệt này của nền chính trị tây phương, thì chúng ta sẽ là một khối đoàn kết bền bỉ , biết bao dung và thông cảm hơn những khác biệt chính kiến, hầu cùng nhau  đóng góp tăng tốc tiến trình dân chủ hóa VN.




Friday, 3 April 2026

 

Hoa Kỳ, NATO, Liên Hiệp Âu Châu và Eo Biển Hormuz

LS Đào Tăng Dực

Ngay trong nhiệm kỳ đầu tiên, TT Trump đã bày tỏ nhiều bất bình với sự đóng góp của những đồng minh của Hoa Kỳ trong những liên minh quân sự từ Âu sang Á. Ông cho rằng Hoa Kỳ đã chi phí quá nhiều để bảo vệ cho các đồng minh và ngược lại sự đóng góp của họ quá ít oi.

Nhất là đối với các quốc gia trong khối NATO tức Liên Minh Bắc Đại Tây Dương bao gồm Canada, Anh Quốc, Turkey và phần lớn các quốc gia Tây Âu.

Ông đã nêu ra nhiều lần khả năng Hoa Kỳ rút khỏi NATO và gần đây nhất, khi Hoa Kỳ và Do Thái oanh tạc Iran, quốc gia này đóng cữa Eo Biển Hormuz, thì NATO từ chối không tham chiến. Ý định muốn Hoa Kỳ rút khỏi NATO càng trở nên mãnh liệt hơn.

Dĩ nhiên Hoa Kỳ là một nền dân chủ theo tổng thống chế và có tam quyền phân lập. Hành pháp, lập pháp và tư pháp đều có giới hạn hiến định của mình. Khác với các nền dân chủ theo quốc hội chế nơi quan điểm “tính tối cao của quốc hội” ( parliamentary supremacy) ngự trị.

 

I.               Câu hỏi đặt ra là tổng thống Hoa Kỳ, tức hành pháp, có thể rút quốc gia ra khỏi NATO hay không?

Câu trả lời là không vì vào năm 2023, một sắc luật được thông qua và trở thành một phần của sắc luật National Defense Authorization Act 2024 (NDAA) quy định muốn rút cần phải:

1. Hoặc 2/3 Thượng Viện phê chuẩn

2. Hoặc một sắc luật riêng của Quốc Hội cho phép

Trong hoàn cảnh chính trị hiện tại, cả 2 điều kiện này không thực tế.

Tuy nhiên điều này không có nghĩa là hành pháp hoàn toàn bó tay.

TT Trump có thể không chính thức rút khỏi NATO nhưng:

-        Không tham dự các phiên họp

-        Không đóng góp tài chánh

-        Giảm số quân đồn trú tại Âu Châu

-        Không tham gia vào các kế hoạch liên hệ đến điều 5 của Hiệp Ước NATO

-        Phủ quyết các kế hoạch (initiatives) của NATO

Có nghĩa là TT Trump hoàn toàn vô hiệu hóa vai trò của Hoa Kỳ trong NATO.

Dĩ nhiên hành động này chỉ có hiệu lực trong phần còn lại của nhiệm kỳ. Vị TT tiếp theo sẽ có sách lược khác và Hoa Kỳ có thể sẽ phục hoạt vai trò trong NATO trở lại dễ dàng.

Trong một nền dân chủ theo quốc hội chế, không có tam quyền phân lập, Thủ tướng, qua đảng cầm quyền nếu nắm đa số trong quốc hội, thông thường sẽ rộng quyền hơn  là tổng thống Hoa Kỳ. Chính vì thế, các quốc gia độc tài cộng sản đều theo quốc hội chế.

 

II.            Câu hỏi kế tiếp là NATO không có Hoa Kỳ có rã đám hay bất lực trước LB Nga hay không?

Câu trả lời là không.

Mặc dầu TT LB Nga Putin sẽ rất vui mừng vì một chiến thắng địa chính trị lớn, nhưng NATO vẫn là một sức mạnh đáng gờm.

Trước hết, ngay cả nếu chiếc dù nguyên tử của Hoa Kỳ không còn bảo vệ nữa, thì Anh Quốc và Pháp vẫn là 2 cường quốc nguyên tử của NATO. Mỗi quốc gia có khoảng 300 đầu đạn hạt nhân trong khi LB Nga có khoảng 6000. Nghe thì cán cân quá chênh lệch nhưng sự thật thì nhân loại chỉ cần 100 đầu đạn nguyên tử là đã tận diệt rồi. Số lượng còn dư thừa chỉ có giá trị tâm lý mà thôi.

Thêm vào đó khi so sánh LB Nga và NATO (trừ Hoa Kỳ) thì dân số Nga là 146 triệu, NATO 600 triệu, GDP LB Nga là $2 trillions còn NATO là $20 trillions, Chi phí quốc phòng LB Nga là $146 tỷ còn NATO là $457 tỷ. Trong trường hợp chiến tranh, tiềm năng quân sự của NATO sẽ vượt trội hơn nữa. Các con số trên dựa vào thống kê 2024. Nhiều quốc gia Tây Âu đã tăng ngân sách quốc phòng đáng kể sau năm 2024 vì cuộc chiến tại Ukraine.

LB Nga chỉ có một hàng không mẫu hạm không khả năng tác chiến, còn Anh Quốc có 2 và Pháp có một. Cả 3 HKMH này đều tối tân và trang bị hiện đại hơn HKMH của Nga.

Nếu xung đột có xảy ra, dù không có sự tham dự của Hoa Kỳ, NATO vẫn đủ sức đối phó và đánh bại LB Nga.

 

III.         Tại sao các nước trong NATO từ chối không tham chiến với Hoa Kỳ tại Iran?

Hầu như các quốc gia trong khối và các quốc gia Á Châu đều lệ thuộc vào dầu hỏa qua Eo Biển Hormuz nhiều hơn Hoa Kỳ. Tại sao họ không chịu tham chiến và chỉ hứa sẽ tham gia kiểm soát sau khi cuộc chiến chấm dứt mà thôi?

Các biện minh họ nêu ra gồm:

1.    Đây là cuộc chiến của HK và Do Thái mà họ không hề được tham khảo trước.

Biện minh này không đúng hoàn toàn. Thực sự ngoài Do Thái ra, HK còn bị áp lực từ chính các quốc Trung Đông khác như Saudi Arabia, UAE, Kuwait .. vì Iran theo hệ phái Shi’a của Hồi Giáo và họ đa số theo hệ phái Sunni. Hai phái này như nước với lửa và quyết chiến đến cùng.

2.    Họ có những nhu cầu quốc phòng trước mắt và không đủ khí tài để sử dụng trong một cuộc chiến quy mô lớn như tại Iran.

 

Lý do thật sự hoàn toàn khác:

1.    TT Trump đã quá mạnh tay áp đặt thuế lên cả đồng minh Âu Châu lẫn các đồng minh khác mà không phân biệt các quốc gia độc tài.Tạo phản cảm trong quần chúng tại các quốc gia dân chủ này.

2.    Các cường quốc Âu châu đều là những cựu quốc gia thực dân và có lượng di dân rất lớn từ các cưu thuộc địa. Những di dân này, sau khi có quốc tịch, có quyền bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử dân chủ. Rất nhiều di dân cựu thuộc địa này theo Hồi Giáo và chống Do Thái.

3.    Họ có chiếc dù nguyên tử của Anh và Pháp. Pháp đang dự tính phát triển lượng bom nguyên tử và đưa sang các quốc gia khác, nhất là Đức để xây dựng một hàng rào nguyên tử cho Âu Châu. Đức dự tính khai triển các chiến đấu cơ có khả năng sử dụng bom nguyên tử của Pháp. Anh Quốc còn triển khai thêm lực lượng tàu ngầm nguyên tử tại Bắc Âu ngay ngưỡng cữa của LB Nga.

4.    Trong tương lai, các quốc gia lớn và tuyến đầu như Đức và Ba Lan có khả năng phát triển vũ khí nguyên tử cho chính mình nữa và họ có đủ trình độ khoa học kỹ thuật để nhanh chóng thực hiện.

 

IV.          Âu Châu và các quốc gia khác có bó tay trước tình trạng Eo Biển Hormuz hay không?

 

Tuy nhiên các quốc gia Tây Âu vẫn bị áp lực từ một số quần chúng ủng hộ cho cuộc chiến hoặc muốn chính phủ can thiệp để mở cữa Eo Biển Hormuz hầu cứu vãn nền kinh tế.

Thêm vào đó họ vẫn muốn chứng tỏ với TT Trump rằng, tuy không trực tiếp tham chiến, nhưng họ vẫn cố gắng đóng góp tích cực vào tiến trình mở cữa Eo Biển này. Dù sao Trump cũng là TT của Hoa Kỳ, siêu cường vô đối của thế giới.

Chính vì thế ngày 2 tháng 4 vừa qua, Anh Quốc tổ chức họp cấp ngoại trưởng các quốc gia trên thế giới. Mục đích là chứng minh rằng họ vẫn chống Iran nhưng muốn giải quyết vấn đề Eo Biển Hormuz một cách ôn hòa, tránh bạo lực, mà không loại trừ khả năng can thiệp quân sự như biện pháp cuối cùng.

Các quốc tham dự gồm khoảng 35- 40 nước gồm Anh, Pháp, Đức, Ý, Hòa Lan, các quốc gia Bắc Âu và các quốc gia Baltic (Âu Châu); Nhật, Úc, Nam Hàn, Ấn (Á Châu Thái Bình Dương); UAE, Bahrain, Panama, Nigeria (Trung Đông và vùng Vịnh); Canada (Bắc Mỹ); Hoa Kỳ không tham dự.

Các quốc gia này dự tính có kế hoạch giải quyết khủng hoảng này bằng những phương tiện ngoại giao, kinh tế, chính trị kể luôn cả quân sự khi cần thiết.

Cho đến bây giờ thì qua những thương thuyết và tiếp xúc riêng, Iran đã cho phép một tàu bè số quốc gia “không thù nghịch” như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Oman, Nhật Bản và Pháp được quyền đi qua eo biển này. Có thể đây là một chiến thuật của Iran nhằm chia rẽ các đồng minh của Hoa Kỳ.

Hà Nội đã tiếp xúc và yêu cầu Iran cho phép. Iran đang duyệt xét  yêu cầu này.

Dĩ nhiên tình hình có thể biến chuyển trong tương lai.