Tính vị
kỷ siêu việt của chế độ độc tài CSVN.
LS Đào
Tăng Dực
Dẫn nhập:
Mô hình
chính trị Mác- Lê là một trong những hình thức quản trị quốc gia thoái hóa nhất
của nhân loại.
Lịch sử
phát triển kinh tế và xã hội đương đại chứng minh rằng, một quốc gia chỉ cần
không bị cộng sản cai trị, thì năng lưc phát triển vượt trội so với những quốc
gia cùng văn hóa, chiều dài lịch sử và bàn tay khối óc tương đồng. Chỉ cần so
sánh CSTQ với Đài Loan, CS Bắc Hàn với Nam Hàn, CS Đông Đức với Tây Đức trước
khi bức tường Bá Linh sụp đổ, CS Bắc Việt với Nam Việt Nam trước 1975 là sáng
tỏ vấn đề.
Chúng ta
có thể suy luận rằng, nếu chế độ CS biến mất tại VN thì chỉ trong vòng một thập
niên, dân tộc chúng ta sẽ vươn lên mạnh mẽ và có thể sánh vai cùng các quốc
phát triển Đông Á.
Lịch sử nhân loại cũng minh chứng
rằng, tất cả các chế độ độc tài đều có một đặc tính chung:
Đó là
tính vị kỷ siêu việt.
Quân
phiệt vị kỷ vì quyền lợi của một số tướng lãnh, giáo phiệt vị kỷ vì quyền lợi
của một nhóm giáo sĩ, phát xít và cộng sản vị kỷ vì quyền lợi của một số đảng
viên. Tuy nhiên đảng trị theo mô hình Mác Lê là tồi tệ nhất.
Trong khi
trật tự chính trị Mác Lê đã bị nhân loại khinh bỉ và vứt vào thùng phân của
lịch sử thì những người CSVN, TQ, Cuba, Bắc Hàn muối mặt bám víu thây ma này,
cũng vì tính vị kỷ siêu việt nêu trên mà thôi.
Đảng CSVN
trong bản chất là một định chế được khai
sinh để nắm giữ quyền lực cho một nhóm thiểu số đảng viên được ưu tiên tuyệt
đối trong xã hội.
Vị kỷ đưa đến bất lực:
Chính vì
mục tiêu tối thượng là nắm giữ quyền lực vị kỷ mà đảng trở nên bất lực trong
trách nhiệm quản trị quốc gia.
Sự kiện
đảng phải ban hành Nghị quyết Trung ương 4, Khóa XII nhằm, “ngăn chặn, đẩy lùi
sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” trong nội bộ là một bằng
chứng hiển nhiên.
Việc đảng
phải liệt kê đến 27 hiện tương suy thoái cho thấy mức độ trầm trọng của khủng
hoảng niềm tin và đạo đức trong hàng ngũ lãnh đạo. Những hiện tương như “phai
nhạt lý tưởng cách mạng”, “giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội”, hay “hoài nghi tư tưởng Hồ Chí Minh” không chỉ là vấn đề nội
bộ mà còn phản ánh sự đổ vỡ trong nền tảng tư tưởng của cả hệ thống chính trị.
Sự bất
lực này không chỉ dừng lại ở khía cạnh tư tưởng mà còn lan rộng sang quản trị
kinh tế, xã hội. Các vụ tham nhũng lớn như vụ Việt Á, vụ AIC (Công ty cổ phần
tiến bộ quốc tế), hay các sai phạm trong ngành ngân hàng, đất đai, giáo dục, đều cho thấy sự yếu kém trong kiểm soát quyền
lực và minh bạch hóa quản lý. Khi hệ thống giám sát nội bộ không đủ mạnh, quyền
lực bị lạm dụng, và người dân phải gánh chịu hậu quả bằng giá cả leo thang, môi
trường bị tàn phá, và cơ hội phát triển bị bóp nghẹt.
Cũng vì
tính vị kỷ tiềm tàng trong trật tự chính trị Mác Lê, đảng hoàn toàn bất lực
trong nhu cầu hoạch định những sách lược lớn của quốc gia.
Viễn kiến
là khả năng nhìn xa trông rộng, dự báo và chuẩn bị cho tương lai. Trong thời
đại tin học này, dĩ nhiên CSVN cũng có khả năng đó nhưng lại hoàn toàn bất lực.
Trong khi nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Singapore, hay gần đây là Ấn Độ đã có
những chiến lược rõ ràng để chuyển đổi mô hình phát triển, khuyến khích doanh
nghiệp tư nhân, đầu tư vào công nghệ cao, giáo dục và năng lượng sạch, thì Việt
Nam vẫn loay hoay với mô hình tăng trưởng dựa vào tư bản nước ngoài, tư bản đỏ
của gia đình đảng viên chóp bu, khai thác tài nguyên, và lao động giá rẻ.
Việt Nam
vẫn phụ thuộc nặng nề vào nhiệt điện than – một nguồn năng lượng gây ô nhiễm và
không bền vững. Trong khi đó, các nước láng giềng đã chuyển mạnh sang năng
lượng tái tạo, xây dựng nền kinh tế xanh để đón đầu xu thế toàn cầu. Việc chậm
trễ trong chuyển đổi không chỉ khiến Việt Nam bị tụt hậu mà còn làm tăng rủi ro
về môi trường và sức khỏe người dân.
Hiến định hóa sự vị kỷ của đảng:
Tính vị
kỷ của đảng thể hiện trong Hiến Pháp 2013 qua việc hiến định hóa doanh nghiệp
nhà nước như lực lượng kinh tế chủ đạo, thay vì doanh nghiệp tư nhân. Đảng cũng
cố tình hiến định hóa chủ quyền đất đai “do nhà nước quản lý”, không thuộc sở
hữu tư nhân.
Đảng ý
thức rằng tài sản là một hình thức quyền lực. Nếu người dân có tư sản thì sẽ có
quyền lực thách thức độc quyền của đảng. Chính vì thế, đảng chỉ cho phép người
dân phát triển tư sản nửa vời. Hậu quả là các quốc gia CS càng giáo điều thì
người dân càng nghèo khổ, điển hình là Cuba và Bắc Hàn. CS Cuba thì đang trên bờ
vực thẳm. CS Bắc Hàn là cùi hủi của nhân loại.
Nếu vì sự
sống còn mà đảng nới lỏng chút ít thì phát triển chậm như VN hoặc rơi vào bẫy
“thu nhập trung bình” (middle income trap) như Trung Quốc, thay vì trở thành
quốc gia không CS thu nhập cao như Singapore, Đài Loan, Nam Hàn hoặc Nhật Bản.
Đối với
CSVN, chỉ có người dân vô sản trần truồng và đảng viên lãnh đạo giàu sụ, thì mới
dễ kiểm soát.
Trong
lĩnh vực giáo dục, thay vì cải cách triệt để để tạo ra một thế hệ công dân sáng
tạo, độc lập và có tư duy phản biện, hệ thống giáo dục Việt Nam vẫn duy trì lối
học nhồi sọ thiếu thực tiễn. Điều này khiến nguồn nhân lực không đáp ứng được
yêu cầu của nền kinh tế hiện đại, dẫn đến tình trạng thất nghiệp gia tăng, và
chảy máu chất xám.
Tính vị
kỷ siêu việt và nỗi ám ảnh mất quyền lực của Đảng đã gây ra những thiệt hại
nghiêm trọng cho quyền lợi quốc gia.
Kết luận:
Đảng CSVN
cần phải trả lại quyền tự quyết dân tộc cho nhân dân để đất nước có thể:
1.
Hoàn tất tiến trình dân chủ hóa,
2.
Xây dựng
một nền dân chủ hiến định, pháp trị, đa nguyên chân chính, hầu
3.
Khắc phục
những hậu quả nghiêm trọng mà độc tài đảng trị đã gây ra cho dân tộc suốt thế
kỷ qua.
No comments:
Post a Comment