Sunday, 15 March 2026

Tính vị kỷ siêu việt của chế độ độc tài CSVN.

LS Đào Tăng Dực

Dẫn nhập:

Mô hình chính trị Mác- Lê là một trong những hình thức quản trị quốc gia thoái hóa nhất  của nhân loại.

Lịch sử phát triển kinh tế và xã hội đương đại chứng minh rằng, một quốc gia chỉ cần không bị cộng sản cai trị, thì năng lưc phát triển vượt trội so với những quốc gia cùng văn hóa, chiều dài lịch sử và bàn tay khối óc tương đồng. Chỉ cần so sánh CSTQ với Đài Loan, CS Bắc Hàn với Nam Hàn, CS Đông Đức với Tây Đức trước khi bức tường Bá Linh sụp đổ, CS Bắc Việt với Nam Việt Nam trước 1975 là sáng tỏ vấn đề.

Chúng ta có thể suy luận rằng, nếu chế độ CS biến mất tại VN thì chỉ trong vòng một thập niên, dân tộc chúng ta sẽ vươn lên mạnh mẽ và có thể sánh vai cùng các quốc phát triển Đông Á.

Lịch sử nhân loại cũng minh chứng rằng, tất cả các chế độ độc tài đều có một đặc tính chung:

Đó là tính vị kỷ siêu việt.

Quân phiệt vị kỷ vì quyền lợi của một số tướng lãnh, giáo phiệt vị kỷ vì quyền lợi của một nhóm giáo sĩ, phát xít và cộng sản vị kỷ vì quyền lợi của một số đảng viên. Tuy nhiên đảng trị theo mô hình Mác Lê là tồi tệ nhất.

Trong khi trật tự chính trị Mác Lê đã bị nhân loại khinh bỉ và vứt vào thùng phân của lịch sử thì những người CSVN, TQ, Cuba, Bắc Hàn muối mặt bám víu thây ma này, cũng vì tính vị kỷ siêu việt nêu trên mà thôi.

Đảng CSVN trong bản chất  là một định chế được khai sinh để nắm giữ quyền lực cho một nhóm thiểu số đảng viên được ưu tiên tuyệt đối trong xã hội.

Vị kỷ đưa đến bất lực:

 

Chính vì mục tiêu tối thượng là nắm giữ quyền lực vị kỷ mà đảng trở nên bất lực trong trách nhiệm quản trị quốc gia.

Sự kiện đảng phải ban hành Nghị quyết Trung ương 4, Khóa XII nhằm, “ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” trong nội bộ là một bằng chứng hiển nhiên.

Việc đảng phải liệt kê đến 27 hiện tương suy thoái cho thấy mức độ trầm trọng của khủng hoảng niềm tin và đạo đức trong hàng ngũ lãnh đạo. Những hiện tương như “phai nhạt lý tưởng cách mạng”, “giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, hay “hoài nghi tư tưởng Hồ Chí Minh” không chỉ là vấn đề nội bộ mà còn phản ánh sự đổ vỡ trong nền tảng tư tưởng của cả hệ thống chính trị.

Sự bất lực này không chỉ dừng lại ở khía cạnh tư tưởng mà còn lan rộng sang quản trị kinh tế, xã hội. Các vụ tham nhũng lớn như vụ Việt Á, vụ AIC (Công ty cổ phần tiến bộ quốc tế), hay các sai phạm trong ngành ngân hàng, đất đai, giáo dục,  đều cho thấy sự yếu kém trong kiểm soát quyền lực và minh bạch hóa quản lý. Khi hệ thống giám sát nội bộ không đủ mạnh, quyền lực bị lạm dụng, và người dân phải gánh chịu hậu quả bằng giá cả leo thang, môi trường bị tàn phá, và cơ hội phát triển bị bóp nghẹt.

Cũng vì tính vị kỷ tiềm tàng trong trật tự chính trị Mác Lê, đảng hoàn toàn bất lực trong nhu cầu hoạch định những sách lược lớn của quốc gia.

Viễn kiến là khả năng nhìn xa trông rộng, dự báo và chuẩn bị cho tương lai. Trong thời đại tin học này, dĩ nhiên CSVN cũng có khả năng đó nhưng lại hoàn toàn bất lực. Trong khi nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Singapore, hay gần đây là Ấn Độ đã có những chiến lược rõ ràng để chuyển đổi mô hình phát triển, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân, đầu tư vào công nghệ cao, giáo dục và năng lượng sạch, thì Việt Nam vẫn loay hoay với mô hình tăng trưởng dựa vào tư bản nước ngoài, tư bản đỏ của gia đình đảng viên chóp bu, khai thác tài nguyên, và lao động giá rẻ.

Việt Nam vẫn phụ thuộc nặng nề vào nhiệt điện than – một nguồn năng lượng gây ô nhiễm và không bền vững. Trong khi đó, các nước láng giềng đã chuyển mạnh sang năng lượng tái tạo, xây dựng nền kinh tế xanh để đón đầu xu thế toàn cầu. Việc chậm trễ trong chuyển đổi không chỉ khiến Việt Nam bị tụt hậu mà còn làm tăng rủi ro về môi trường và sức khỏe người dân.

Hiến định hóa sự vị kỷ của đảng:

Tính vị kỷ của đảng thể hiện trong Hiến Pháp 2013 qua việc hiến định hóa doanh nghiệp nhà nước như lực lượng kinh tế chủ đạo, thay vì doanh nghiệp tư nhân. Đảng cũng cố tình hiến định hóa chủ quyền đất đai “do nhà nước quản lý”, không thuộc sở hữu tư nhân.

Đảng ý thức rằng tài sản là một hình thức quyền lực. Nếu người dân có tư sản thì sẽ có quyền lực thách thức độc quyền của đảng. Chính vì thế, đảng chỉ cho phép người dân phát triển tư sản nửa vời. Hậu quả là các quốc gia CS càng giáo điều thì người dân càng nghèo khổ, điển hình là Cuba và Bắc Hàn. CS Cuba thì đang trên bờ vực thẳm. CS Bắc Hàn là cùi hủi của nhân loại.

Nếu vì sự sống còn mà đảng nới lỏng chút ít thì phát triển chậm như VN hoặc rơi vào bẫy “thu nhập trung bình” (middle income trap) như Trung Quốc, thay vì trở thành quốc gia không CS thu nhập cao như Singapore, Đài Loan, Nam Hàn hoặc Nhật Bản.

Đối với CSVN, chỉ có người dân vô sản trần truồng và đảng viên lãnh đạo giàu sụ, thì mới dễ kiểm soát.

Trong lĩnh vực giáo dục, thay vì cải cách triệt để để tạo ra một thế hệ công dân sáng tạo, độc lập và có tư duy phản biện, hệ thống giáo dục Việt Nam vẫn duy trì lối học nhồi sọ thiếu thực tiễn. Điều này khiến nguồn nhân lực không đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế hiện đại, dẫn đến tình trạng thất nghiệp gia tăng, và chảy máu chất xám.

Tính vị kỷ siêu việt và nỗi ám ảnh mất quyền lực của Đảng đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho quyền lợi quốc gia.

Kết luận:

Đảng CSVN cần phải trả lại quyền tự quyết dân tộc cho nhân dân để đất nước có thể:

1.   Hoàn  tất tiến trình dân chủ hóa,

2.   Xây dựng một nền dân chủ hiến định, pháp trị, đa nguyên chân chính, hầu

3.   Khắc phục những hậu quả nghiêm trọng mà độc tài đảng trị đã gây ra cho dân tộc suốt thế kỷ qua.




No comments:

Post a Comment