Friday, 1 March 2024

 

Sự khác biệt giữa an sinh xã hội và “an sinh xã hội chủ nghĩa”.

 

LS Đào Tăng Dực

www.daotangduc.blogspot.com

Trong bất cứ quốc gia nào, tự cổ chí kim, đều có những người giàu và kẻ nghèo.

Ngay cả trong những quốc gia giàu có nhất thế giới cũng có nhiều bất công xã hội và dĩ nhiên những người nghèo.

Trên bình diện lý thuyết, “tư bản chủ nghĩa” thường đưa đến tình trạng sai biệt lớn lao giữa người giàu, kẻ nghèo và cộng sản hoặc “xã hội chủ nghĩa” thì có khuynh hướng xóa bỏ biên giới giữa 2 giai cấp giàu nghèo trong xã hội.

Các nghiên cứu cho thấy, theo ngân hàng đầu tư Credit Suise thì Gini Index (tức chỉ số khoảng cách giữa giàu và nghèo trong xã hội) của Hoa Kỳ rất cao (39.8 năm 2021). Lý do có thể giải thích được vì Hoa Kỳ là nước tư bản hàng đầu và nơi sinh ra những nhân tài tư bản với những sáng tạo vượt bực, đưa văn minh nhân loại đến một tầng cao hơn, như Bill Gate của Microsoft, Mark Zuckenberg của Facebook, Steve Jobs của Apple, Elon Musk của Space X, Jeff Bezos của Amazon v…v…và trở thành những đại tỷ phú hoàn vũ.

Tuy sự giàu có huyền thoại của họ kéo dài khoảng cách giàu nghèo, nhưng trên thực tế, họ làm cả xã hội giàu hơn.

Kết quả là người giàu tại Hoa Kỳ thì tài sản thật không tưởng tượng nổi đối với một quốc gia nghèo. Người trung lưu của Hoa Kỳ nhiều tài sản hơn người thượng lưu tại những quốc gia nghèo và người nghèo tại Hoa Kỳ cũng nhiều tài sản hơn khi so sánh với nhiều người trung lưu tại những quốc gia nghèo khổ hơn nữa.

Câu hỏi là tại sao Gini Index của các quốc gia xã hội chủ nghĩa như TQ (37.1 năm 2020), Việt Nam (36.8 năm 2020), Lào (38.8 năm 2018) lại cao hơn cả những quốc gia tư bản khác như Đài Loan (34.1 năm 2017), Nam Hàn (33 năm 2021), Nhật Bản (32.9 năm 2018), Canada (31.7 năm 2019), Australia (32 năm 2020) và Vương Quốc Thống Nhất Anh (32.6 năm 2020)?

Đó là chưa kể Đài Loan có những nhà tư bản hàng đầu nhờ kỹ nghệ bán dẫn, Nam Hàn với kỹ nghệ Điện thoại thông minh, Nhật Bản kỹ nghệ xe hơi, Canada và Úc Đại Lợi với kỹ nghệ khoáng sản, Vương Quốc Thống Nhất Anh với kỹ nghệ tài chánh.

Câu trả lời gồm trong các lý do sau đây:

1. Các quốc gia CS tức xã hội chủ nghĩa, trong bản chất thật sự là những quốc gia độc tài do một đảng CS duy nhất lãnh đạo. Muốn lãnh đạo tuyệt đối và không đối thủ, họ phải bần cùng hóa nhân dân. Kinh nghiệm tranh đấu cướp chính quyền và duy trì quyền lực dạy cho họ rằng: Chỉ có những người dân nghèo khổ, phấn đấu mỗi ngày không đủ cơm ăn, mới chấp nhận sự thống trị lâu dài, mà không còn khả năng mơ màng đến lật đổ chế độ.

2. Tuy nhân dân thì nghèo, nhưng trong các quốc gia CS tức xã hội chủ nghĩa, nhà nước thì không nghèo vì đảng lãnh đạo nhà nước và quản lý tài sản quốc gia nhân danh người dân. Mà nhà nước thì do một thiểu số đảng viên cai quản, nên từ nhà nước sản sinh ra những tư bản đỏ giàu sụ, đôi khi có thể sánh vai cùng các nhà tư bản hàng đầu của Hoa Kỳ hay các nước tây phương khác.

3. Riêng đảng CSVN thì còn cho nhân dân ăn bánh vẽ để đỡ đói. Chẳng hạn, tuy hàng triệu dân nghèo rớt mồng tơi, bệnh hoạn, không cơm ăn áo mặc, hàng triệu trẻ em rách rưới không trường học, không đủ mì tôm sống còn mỗi ngày, nhưng điều 3 Hiến Pháp 2013 quy định một cách ngạo nghễ theo tinh thần TBT Nguyễn Phú Trọng: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.

4. Tuy điều 3HP hàm hồ như thế, nhưng nhu cầu căn bản của người dân rất đơn giản vào bao gồm 4 thực tế: (1) cơm ăn, (2) áo mặc, (3) nhà ở và (4) chăm sóc y tế khi bệnh hoạn. Trong khi các quốc gia tư bản rẫy chết có an sinh xã hội (social security) bảo đảm 3 thực tế đầu và y tế hoàn vũ miễn phí (free universal medicare) hoặc tương tự, khi bệnh hoạn, bảo đảm thực tế thứ 4, thì người dân nghèo tại các quốc gia xã hội chủ nghĩa, khi không đủ ăn thì phải ăn xin, khi bệnh hoạn thì phải chịu chết và ăn bánh vẽ, theo điều 3 hiến pháp hoặc tương tự.

5. Các quốc gia dân chủ chân chính có những hiến pháp khắc ghi một trật tự chính trị dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên. Các quốc gia CS xã hội chủ nghĩa đều độc tài, độc đảng. Hiến pháp 2013 của Việt Nam minh thị trao quyền lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện, vĩnh viễn, từ nhà nước đến xã hội dân sự, cho một chính đảng duy nhất là đảng CSVN. Hậu quả là, tại các quốc gia dân chủ, khi một chính đảng không đáp ứng được sự phát triển quốc gia, nhân dân có thể thay thế bằng một chính đảng có khả năng hơn. Trong khi đó, tại các quốc gia CS thì nhân dân không có sự chọn lựa. Chính vì thế các quốc gia dân chủ luôn tiến về phía trước. Các quốc gia CS xã hội chủ nghĩa thì ngày càng thụt lùi.

 

Hậu quả là tại các quốc gia dân chủ và tư bản thì nhân dân lại có an sinh xã hội, chăm sóc y tế chân chính và có thực chất. Trong khi đó tại các quốc cộng sản, hệ thống an sinh “xã hội chủ nghĩa”, như tại Việt Nam, chỉ cho dân nghèo ăn toàn bánh vẽ.



Monday, 26 February 2024

 

Vi hiến là gì và tại sao người CSVN thường xuyên vi hiến?

Luật sư Đào Tăng Dực

www.daotangduc.blogspot.com

 

Vi hiến có nghĩa là “vi phạm” hay đi ngược lại những gì Hiến Pháp quy định. Hiến Pháp không có gì là cao siêu hay quá bí ẩn.

Hiến Pháp trong bản chất chỉ là một bộ luật.

Sự khác biệt chỉ là: HP là một bộ luật nền tảng hay nôm na là “luật mẹ”. Không những không cá nhân hay hữu thể pháp lý nào trong xã hội, kể cả hành pháp (tức chính phủ) được quyền vi phạm HP, mà không một luật pháp nào của lập pháp (tức quốc hội) được quyền vi phạm HP cả.

Vi phạm luật pháp gọi là “phạm luật”, vi phạm hiến pháp thì gọi là “vi hiến”. Trong bản chất thì 2 tác động này giống nhau vì các sắc luật hay hiến pháp đều là luật cả. Tuy nhiên thông thường thì phạm luật có thể bị chế tài về hình (criminal) hay hộ (civil), nhưng một tác động hoặc sắc luật vi hiến thì chỉ bị chế tài bằng hình thức tuyên bố là vô hiệu lực mà thôi.

Khi chúng ta nhận thức về một điều khoản của hiến pháp thì chúng ta có thể nhận thức từ 2 góc cạnh. Một là “văn tự” của hiến pháp và hai là “tinh thần” của hiến pháp.

Tuân thủ văn tự của hiến pháp có nghĩa là “lời văn” như thế nào thì phải tuân thủ như vậy. Tuân thủ tinh thần của hiến pháp có nghĩa là tuân thủ theo “ý định” hay “mục đích” của hiến pháp.

Khi bàn về luật hiến pháp, nhiều khi tuân thủ văn tự của hiến pháp thì lại vi hiến và ngược lại. Dĩ nhiên, khi vi phạm cả văn tự lẫn tinh thần của HP thì xác xuất bị kết án là vi hiến sẽ rất cao.

Ngoài ra, các điều khoản của hiến pháp đôi khi là những mệnh lệnh cần phải tuân thủ và thực thi. Không thực thi một mệnh lệnh của hiến pháp trong một thời gian hợp lý (within reasonable time), tức sự vắng bóng một tác động (absence of action) không có nghĩa là chúng ta sẽ tránh được tội. Đôi khi không thực thi một điều khoản có tính mệnh lệnh của hiến pháp, cũng là vi hiến. Chẳng hạn đoạn 2 Điều 119 quy định như một mệnh lệnh “Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định.” Tuy nhiên cho đến bây giờ, hơn 10 năm sau, người CSVN vẫn chưa có động thái nào để ra luật thành lập cơ chế này.

Thêm vào đó Điều 25 HP quy định:

“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.”

Tuy nhiên cho đến bây giờ quốc hội vẫn chưa thông qua luật biểu tình.

Chính vì thế cần phải có một định chế hoàn toàn độc lập, như Tối Cao Pháp Viện của Hoa Kỳ hoặc Hội Đồng Hiến Pháp của nước Pháp, hầu tài phán chung quyết về tính hợp hiến hoặc vi hiến, tùy theo mỗi trường hợp cá thể.

Một cách tổng quát, có các hình thức vi hiến sau đây:

1.    Vi phạm tinh thần của HP.

2.    Vi phạm lời văn của HP

3.    Vi phạm cả tinh thần lẫn lời văn của HP

4.    Không thi hành một mệnh lệnh trong HP

Người CSVN luôn hô hào ầm ỹ trong quần chúng:

-         Làm theo hiến pháp và luật pháp

-         Tuy nhiên CSVN vi phạm HP và LP nhiều nhất.

Tại sao?

1.    Họ nghĩ như TBT Nguyễn Phú Trọng rằng Điều Lệ Đảng ưu thắng và cao hơn HP và HP thật sự chẳng quan trọng.

2.    Hàng ngũ đảng viên, kể cả cấp cao của họ thiếu hiểu biết về HP và LP vì họ chưa bao giờ sinh hoạt trong một môi trường pháp trị chân chính, họ chỉ hiểu chế độ đảng trị và tuân lệnh của đảng CSVN mà thôi.

3.    Họ cố tình không hiến định hóa một định chế hoàn toàn độc lập hầu tài phán về tính vi hiến hay hợp hiến của một sắc luật của lập pháp hoặc một tác động của hành pháp như Tối Cao Pháp Viện (Supreme Court) của Hoa Kỳ hoặc Hội Đồng Hiến Pháp (Conseil Constitutionel) của nước Pháp.

4.    Họ quy định trong hiến pháp tại đoạn 1 Điều 119 rằng “Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý.” Nhưng họ cố tình không quy định phương thức xử lý là gì trong HP lẫn trong một sắc luật nào.

5.    Sau mỗi điều khoản quy định một nhân quyền (ví dụ quyền phê bình nhà nước, quyền bầu cử) hay quyền tự do (ví dụ quyền tự do ngôn luận) của công dân trong HP, họ sử dụng câu thòng thông thường trong các bản hiến pháp, như “theo quy định của luật pháp” và sau đó họ ra những sắc luật ngang nhiên phủ nhận hay vi phạm điều khoản liên hệ.

6.    Họ tư duy theo tinh thần “Cứu cánh biện minh cho phương tiện”. Quyền lợi đảng là cứu cánh, HP và LP chỉ là phương tiện, chỉ cần tuân thủ khi phù hợp với quyền lợi đảng. Nếu không hợp với quyền lợi đảng, họ có thể vi phạm tự nhiên.

7.    Họ quan niệm rằng, nhân dân rất ngu si và không hiểu gì về HP và LP, họ có thể qua mắt và lường gạt mà không có hậu quả lớn lao gì.

8.    Họ cố tình gài trong HP những khái niệm xung đột lẫn nhau, chẳng hạn một mặt khắc ghi nhân quyền, mặt khác cướp đi nhân quyền; hoặc một mặt thì hiến định hóa địa phương phân quyền và mặt khác lại hiến định hóa khái niệm “tập trung dân chủ” để hủy diệt “địa phương phân quyền”.

9.    Họ thường xuyên đánh cắp và sau đó đánh tráo khái niệm: pháp trị biến thành pháp chế xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường thành kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ cộng hòa trở thành cộng hòa xã hội chủ nghĩa, tổ quốc trở thành tổ quốc xã hội chủ nghĩa, quân đội trung thành với tổ quốc trở thành trung thành với cả đảng CSVN.

Cứ như thế người CSVN thoải mái vi hiến liên tục và thường xuyên.

Saturday, 17 February 2024

 

Hiến pháp 2013 quy định Việt Nam theo chế độ chính trị nào?

LS Đào Tăng Dực

www.daotangduc.blogspot.com

I. Dẫn nhập:

Thông thường hiến pháp của một quốc gia dân chủ chân chính quy định rất rõ chế độ chính trị của quốc gia đó, ngoại trừ các chế độ độc tài.

Trong trường hợp các quốc gia dân chủ thì câu trả lời rất đơn giản và trong sáng.

Chẳng hạn Hiến Pháp của Hoa Kỳ, Brasil, Argentina, Indonesia quy định rằng họ theo mô hình tổng thống chế. Các quốc gia như Canada, Úc Đại Lợi, Anh Quốc, Tân Tây Lan theo mô hình Quốc Hội Chế.

Các quốc gia như Pháp, Nam Hàn, Đài Loan, Ukraine theo một mô hình hỗn hợp giữa quốc hội chế và tổng thống chế.

Tuy nhiên trong trường hợp các chế độ độc tài, thì câu trả lời rất phức tạp. Lý do là chế độc độc tài nào cũng “làm ra vẻ” dân chủ cả. Phương pháp chung của các chế độ độc tài là sử dụng một mô hình dân chủ, nhưng “làm bẩn” hay “làm ô uế” mô hình này, bằng một số thủ thuật “ma giáo” nhằm các mục đích sau đây:

1. Bên trong, nắm giữa độc quyền chính trị tuyệt đối và vĩnh viễn

2. Bên ngoài, biện minh với quốc tế rằng mình là một chế độ dân chủ khả kính

Như vậy trước khi phân tích các chế độ độc tài thì chúng ta phải am hiểu các mô hình chính trị dân chủ, và sau đó, tìm hiểu các chế độ độc tài sử dụng các thủ thuật nào, hầu làm bẩn hay làm ô uế các mô hình dân chủ chân chính.

II. Nhận diện các chế độ Dân chủ khác nhau:

Như vậy, có bao nhiêu mô hình chế độ dân chủ chân chính,

Câu trả lời là có 2 mô hình chính và một mô hình phụ.

Hai mô hình chính là:

1. Quốc hội chế khi quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao (supremacy of parliament) và

2. Tổng thống chế với tam quyền phân lập (hành pháp, lập pháp và tư pháp).

Mô hình phụ là hỗn hợp giữa tổng thống chế và quốc hội chế.

A. Quốc hội chế (còn gọi là Nội Các chế hoặc Đại Nghị chế) (Parliamentary democracy) có những yếu tính sau đây:

1. Có quốc trưởng hoặc vua nhưng chỉ là biểu tượng, không có thực quyền chính trị (khi có vua thì còn gọi là quân chủ lập hiến)

2. Thủ tướng có thực quyền chính trị

3. Chỉ có nhị quyền phân lập (một bên là Quốc Hội và nội các, bên kia là tư pháp độc lập)

4. Có đối lập chính thức trong quốc hội (official opposition)

5. Đại diện cho mô hình này là Vương Quốc Thống Nhất Anh (United Kingdom hay Great Britain), Canada, Úc, Tân Tây Lan, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Hòa Lan, Đan Mạch, Bỉ quốc…

B. Tổng thống chế (Presidential democracy, presidential regime)

1. Tổng thống là quốc trưởng và lãnh đạo thực quyền hành pháp, tổng tư lệnh quân lực.

2. Tam quyền phân lập theo mô hình của tư tưởng gia chính trị Montesquieu

3. Có đối lập chính thức trong Quốc Hội (hoặc đơn viện hoặc lưỡng viện)

4. Đại diện cho mô hình này là Hoa Kỳ , các quốc gia châu Mỹ La Tinh (Nam Mỹ Châu), Phi Luật Tân, Indonesia….

C. Các mô hình tổng hợp

a. Dung hòa giữa Tổng thống chế và quốc hội chế

b. Đứng đầu hành pháp có cả tổng thống lẫn thủ tướng

c. Có 2 mô hình theo 2 khuynh hướng khác nhau

(1) Tổng hợp nhưng thiên về tổng thống chế (Pháp, Nam Hàn, Đài Loan, LB Nga, Ukraine…)

i. Tổng thống được bầu trực tiếp và có thực quyền nhất là về quốc phòng và ngoại giao

ii. Là tổng tư lệnh quân lực

iii. Chủ tọa Nội các

iv. Bổ nhiệm thủ tướng

(2) Thiên về quốc hội chế (Đức, Singapore, Ấn Độ)

i. Tổng thống là quốc trưởng nhưng chỉ là biểu tượng

ii. Thủ tướng nắm thực quyền chính trị

iii. Tại Đức thì tổng tư lệnh quân lực thời bình là bộ trưởng quốc phòng còn thời chiến là thủ tướng

III. Việt Nam theo mô hình chính trị nào?

Hay chính xác hơn, câu hỏi phải là, đảng CSVN đã “làm ô uế” mô hình dân chủ nào hầu lừa gạt nhân dân và quốc tế?

Chúng ta sẽ có câu trả lời chính xác khi phân tích bản Hiến Pháp 2013.

A. Việt Nam theo quốc hội chế:

Chương V của HP 2013 về Quốc Hội quy định quyền lực bao trùm của QH và xác định trên nguyên tắc rằng VN theo mô hình chính trị quốc hội chế tương tự với Anh Quốc, Canada, Úc, Tân Tây Lan, Đan Mạch …

Nhất là điều 69 HP quy định:

“Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.”

 

Thêm vào đó, đoạn 7 Điều 70 HP chi tiết hóa cụ thể quyền hạn và trách nhiệm của quốc hội bao trùm như sau:

 

“7. Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán Nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh, Hội đồng bầu cử quốc gia.

Sau khi được bầu, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải tuyên thệ trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp;”

 

B. CSVN sử dụng các thủ thuật nào để “làm ô uế” mô hình quốc hội chế?

 

Thủ thuật họ sử dụng rất nhiều. Tuy nhiên một số thủ thuật chính sau đây nổi bật:

 

1. Hiến định hóa điều 4 HP hầu độc quyền cai trị qua việc đồng hóa đảng với nhà nước và kiểm soát tuyệt đối xã hội dân sự.

 

2. Thông qua Luật Bầu Cử Đại Biểu Quốc Hội và Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân 2015 và các tiền thân của bộ luật này, quy định Mặt Trận Tổ Quốc (Cơ quan ngoại vi của đảng) quyền chọn ứng cử viên vào quốc hội và các hội đồng nhân dân địa phương. Kết quả là chỉ có đảng viên và một số rất ít cảm tình viên của đảng được quyền ứng cử vào cơ quan quyền lưc tối cao này.

 

3. Sau khi đạt được kết quả khoảng 90% dân biểu quốc hội là đảng viên thì chiếu theo Điều 70, đoạn 7, CSVN bổ nhiệm nào là Chủ Tịch Nước, Thủ Tướng, Chủ Tịch Quốc Hội, Chánh Án Tòa Án Tối Cao Nhân Dân…và kết quả là nhìn thoáng qua thì có cả tam quyền (hành pháp, tư pháp và lập pháp) nhưng trong bản chất không hề có phân lập vì đảng lãnh đạo và phân phối tất cả.

 

C. Tại sao không những đảng CSVN mà hầu như tất cả các đảng CS đều sử dụng mô hình quốc hội chế để thực thi độc tài đảng trị?

 

Muốn trả lời câu hỏi này, chúng ta phải phân tích những ưu và khuyết điểm khác nhau của 2 mô hình dân chủ chính là quốc hội chế và tổng thống chế:

 

1. Ưu và khuyết điểm của quốc hội chế:

a. Ưu điểm là một chế độ dân chủ chân chính

b. Khuyết điểm:

- Không có tam quyền phân lập

- Một cá nhân hay tập thể chỉ cần nắm đa số trong Quốc Hội là thống trị cả lập pháp, hành pháp và có thể cả tư pháp.

- Yếu tố check và balance không đầy đủ bằng tam quyền phân lập

- Đòi hỏi một truyền thống dân chủ sâu dày như Anh Quốc, Úc, Canada , Tân Tây Lan thì dân chủ mới thật sự bền vững.

 

2. Ưu và khuyết điểm của tổng thống chế:

i. Rất ít khuyết điểm. Có chăng là khi cả quốc hội lẫn Tổng Thống cùng một chính đảng thống trị thì có thể chuyên quyền hơn.

ii. Ưu điểm rất nhiều:

- Nhờ tam quyền phân lập rõ rệt nên có checks và balance giữa hành pháp. Lập pháp và tư pháp

- Khi trình độ dân chủ chưa cao thì tổng thống chế có khả năng  giảm thiểu khuynh hướng độc tài hơn

- Trình độ dân chủ càng sâu dày thì chế độ càng ổn định và bền vững

3. Lịch sử chứng minh:

Các chế độ độc tài trên thế giới, nhất là CS, phần lớn phát xuất từ quốc hội chế (CSLX, CSTQ, CSVN, CS Bắc Hàn, Cuba…) Đức Quốc Xã tuy nguyên thủy có tổng thống lẫn thủ tướng (chancellor) nhưng thiên về quốc hội chế và đảng Quốc Xã của Hitler chuyên quyền trong quốc hội.

Các quốc gia trên đà dân chủ hóa theo tổng thống chế lần lược thoát khỏi độc tài tương đối nhanh hơn các quốc gia theo quốc hội chế (các quốc gia châu Mỹ La Tinh, Indonesia, Phi Luật Tân theo tổng thống chế , khi đối chiếu với Thái Lan, Miến Điện, Việt Nam, Trung Quốc, Singapore, Pakistan, theo quốc hội chế).

Một cách tóm tắc, theo tổng thống chế, ngoài tam quyền phân lập, còn đòi hỏi ít nhất 2 cuộc bầu cử: bầu cử tổng thống (hành pháp) và bầu cử quốc hội (lập pháp).

Trong khi đó, theo quốc hội chế thì ngoài việc không có tam quyền phân lập rồi, thì chỉ cần bầu cử quốc hội (lập pháp). Chính vì thế, các chế độ CS như Việt Nam, TQ, Cuba, Bắc Hàn, Liên Xô …một khi qua những thủ thuật chọn lọc ứng cử viên (phải là đảng viên hay cảm tình viên) thì sẽ nắm trọn đa số trong quốc hội và quyền lực tối cao.

Chỉ cần có đa số trong quốc hội thì toàn thể nhân dân của quốc gia sẽ như baba nằm trong rọ của đảng.

Đó là một lý do quan trọng tại sao các đảng CS yêu mến và bình chọn mô hình quốc hội chế để thi hành độc tài đảng trị.

 

Monday, 5 February 2024

 

Nguồn gốc của hiến pháp và tại sao gọi HP là luật nền tảng

LS Đào Tăng Dực

www.daotangduc.blogspot.com

Nhu cầu hiểu biết thêm về hiến pháp:

Muốn lật đổ độc tài CSVN thì phải hủy bỏ HP 2013 và thay thế bằng một bản hiến pháp dân chủ thực sự. Khi nói đến HP của một quốc gia và những khái niệm như hợp hiến hay vi hiến, mọi người đều nghĩ đến những vấn đề trừu tượng hay cao siêu, nằm ngoài khả năng hiểu biết của mình.

Như vậy khi chúng ta nói đến những sai lầm của HP 2013, đại đa số không hiểu chuyện gì.

Kỳ thực, HP không phải là một vấn đề quá phức tạp và nếu chịu khó một chút, ai cũng có thể hiểu.

Như vậy, một cách đơn giản hơn thì hiến pháp là gì?

Một cách đơn giản, hiến pháp trong bản chất chỉ là một giao kèo, hay còn gọi là hợp đồng hay khế ước, giữa thành phần thống trị (chính quyền) và thành phần bị trị (dân chúng), để quy định một trật tự chính trị, mà thôi. Hiến pháp có thể bất thành văn, hay thành văn.

Thông thường, thủa xa xưa trong lịch sử thì bất thành văn và càng gần với thời đại mới thì thành văn. Thêm vào đó, càng xa xưa thì hiến pháp độc tài hơn và thiên về bảo vệ quyền lợi của thành phần thống trị. Càng gần với thời đại mới thì hiến pháp càng dân chủ hơn và thiên về thành phần bị trị. Tuy nhiên, đây không phải là một quy luật tuyệt đối. Trong kỷ nguyên mới của thời đại tin học, vẫn còn những chế độ độc tài, như tại các quốc gia cộng sản, vài quốc gia Phi Châu hay Trung Đông.

HP được gọi là luật nền tảng là vì tuy trong một quốc gia có rất nhiều giao kèo hay khế ước giữa các công dân cá thể, giữa các hữu thể pháp lý khác nhau trong xã hội, nhưng không có khế ước nào quy định một trật tự chính trị, làm nền tảng cho mọi định chế xã hội, cho những nhu cầu tập thể của quốc gia về kinh tế, quốc phòng, ngoại giao và cho mọi sinh hoạt của cả một dân tộc như HP cả.

Thêm vào đó, một quy luật bất biến áp dụng cho HP là tất cả các luật pháp khác, nếu vi phạm HP, đều vô hiệu lực. Chính vì thế HP là một khế ước vượt lên trên tất cả mọi khế ước khác.

 

Như vậy là để có những bản HP như hôm nay, lịch sử đã kinh qua nhiều giai đoạn. Câu hỏi kế tiếp là những mốc điểm nào quan trọng nhất  cho tiến trình hình thành một bản hiến pháp đương đại?

Một cách dễ hiểu thì lịch sử nhân loại kinh qua các mốc điểm về khế ước xã hội nền tảng sau đây:

1.    Sự thống trị của bạo lực:

Đây là giai đoạn Phong Kiến mà tiêu biểu là giai đoạn Trung Cổ tại Âu Châu (500-1500AD) và Đời nhà Chu (kể cả giai đoạn Đông Chu Liệt Quốc) (1046TCN- 256TCN) kéo dài 800 năm tại Trung Quốc. Đây là giai đoạn trước khi chế độ quân chủ chuyên chế lên ngôi. Trong giai đoạn này, cá nhân nào có sức mạnh và huy động đủ bạo lực thì sẽ trở thành kẻ thống trị và kẻ bị trị mặc nhiên chấp nhận trật tự chính trị do kẻ thống trị đưa ra, trong phạm vi lãnh địa của mình kiểm soát. Đây cũng là một kiểu khế ước bất thành văn giữa kẻ bị trị và vị lãnh chúa trong địa phận của mình.

2.    Thiên Mệnh và quân chủ chuyên chế:

Tuy nhiên, mốc điểm thứ nhì là khi ý thức về quốc gia dân tộc hình thành thì một trong những vị lãnh chúa vượt lên trên tất cả những lãnh chúa khác, gồm thâu thiên hạ và xưng vương hay xưng đế, cai trị cả dân tộc. 2 nhân vật lịch sử Đông Tây là Charlemagne tại Âu Châu và Tần Thủy Hoàng tại TQ.

Tại TQ thì tân hoàng đế lập Đại Đàn, cúng tế trời và nhận Thiên Mệnh để chính thức cai trị như con trời (Thiên Tử). Tại Âu Châu thì Tân Hoàng đế cũng được Giáo Hoàng của Giáo Hội Công Giáo chính thức tấn phong, coi như được Thượng Đế ban cho thiên mệnh.

3.    Magna Carta năm 1215 của Anh Quốc hay còn gọi là Đại Ước Chương về các quyền tự do (Great Charter of Freedoms).

 

Trên góc cạnh HP thì đây là HP thành văn đầu tiên của nhân loại. Hoàn cảnh lịch sử là Quốc Vương John của Anh Quốc không được sự thần phục của các lãnh chúa (barons) trong quốc gia và họ đòi truất phế vương vị. Nhà vua phải ký một Khế Ước trao cho họ nhiều quyền lợi như: bảo vệ quyền lợi của giáo hội, các lãnh chúa không thể bị giam cầm bất hợp pháp, thi hành công lý nghiêm minh và giới hạn quyền đánh thuế khóa của vương triều.

Dĩ nhiên vào thời điểm đó, công dân cá thể không có tiếng nói.

Chỉ có 3 thực thể giao kè với nhau: nhà vua, các lãnh chúa và giáo hội mà thôi.

Tuy nhiên văn kiện thành văn này là một mốc thời gian quan trọng và một phần tạo ra nguồn cảm hứng cho HP của Hoa Kỳ (1787)

 

4.    JJ Rousseau viết cuốn Le Contrat Social (Social contract) tức Khế Ước Xã Hội  năm 1762:

Đây là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình hình thành HP hiện đại. JJ Rousseau nhấn mạnh rằng trong khế ước này tính tự do (freedom) và tự nguyện (voluntary consent) của các thành phần tham dự khế ước là vô cùng quan trọng. Bạo lực và sự nô lệ không thể đem lại tính chính danh cho một khế ước. Theo ông chính quyền (The sovereign) phải hành xử theo khái niệm “Ý Dân” (Volonte Generale hay General Will) , khác với “Ý của đa số” (Majority Will), “Ý của thiểu số” (Minority Will”, “ Ý của phe nhóm” (Corporate will) hay “Ý cá nhân” (Specific will). Khái niệm General will tuy phức tạp nhưng thực ra đồng nghĩa với khái niệm public good hay common good tức khái niệm công ích, hay quyền lợi quốc gia (National interests). HP của Hoa Kỳ chịu ảnh hưởng rất nhiều từ JJ Rousseau.

5.    Hiến Pháp Hoa Kỳ được các cha đẻ như Benjamin Franklin, Thomas

Jefferson, James Madison, John Adams chấp bút năm 1787, Các Tiểu Bang Phê Chuẩn năm 1788 và có hiệu lực từ  năm 1789 là một cột mốc quan trọng nữa.

Đây là bản HP thành văn đầy đủ, dân chủ và trở thành mẫu mực cho các HP thành văn của các nền dân chủ hiện đại. Bản HP này cũng lấy nguồn cảm hứng từ các tư tưởng gia thời ánh sáng tại Âu Châu như Thomas Hobbes, JJ Rousseau, Montesquieu, Voltaire như cuộc cách mạng Pháp, nhưng đi trước cuộc cách mạng này (1789-1799).

 

6.    Phiên tòa Marbury vs Madison (1803):

 

Đây là một án lệ vô cùng quan trọng cho luật Hiến Pháp Hoa Kỳ và luật hiến pháp toàn cầu với một nguyên tắc pháp lý quan trọng. Đó là bất cứ sắc luật nào, đi ngược với hiến pháp đề vô hiệu lực. Thẩm phán John Marshall, chủ tịch Tối Cao Pháp Viện chủ tọa phiên tòa và chấp bút quyết định lịch sử này. Đây là một cột mốc quan trọng nữa trong lịch sử luật HP của thời đại. Riêng cho Hoa Kỳ quyết định này cũng quy định quyền duyệt xét pháp lý (judicial review) về hiến pháp của Tối Cao pháp viện lẫn các tòa án LB, và các tòa TB cũng có quyền tương tự trong phạm vi TB của mình.

Quyết định này cũng tái xác định Tư Pháp như là ngang hàng với hành pháp và lập pháp trong hệ thống Tam Quyền Phân Lập của Montesquieu. Trước khi phiên tòa này xảy ra thì Tư Pháp (Tối cao pháp viện) tương đối lép vế so với hành pháp (tổng thống) và Lập Pháp (quốc hội).

 

Câu hỏi quan trọng tiếp theo là: Hiến Pháp 2013 của CSVN cũng là một bản HP của thời đại, tại sao lại phải dẹp bỏ HP này và thay thế bằng một bản HP dân chủ, hiến định, pháp trị và đa nguyên?

Tuy sinh ra trong thời đại tương đối mới, nhưng các chế độ độc tài như Phát Xít, Quốc Xã của Hitler, hay Đôc Tài Giáo Phiệt của Iran, hay độc tài CS thiếu một yếu tố quan trọng trong khế ước ký kết với nhân dân, hoặc nôm na là HP. Đó là yếu tố đồng thuận của kẻ bị cai trị.

Chưa bao giờ có một đảng CS nào có một bản HP thực sự của dân, do dân và vì dân. Chỉ là những bản HP áp đặt trên nhân dân bằng bạo lực và nắm giữ quyền lực bằng bạo lực.

Chính vì thế, tiến trình dân chủ hóa đòi hỏi một trật tự chinh trị mới, thể hiện qua một bản hiến pháp dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên.

Tuesday, 30 January 2024

 

Những khuyết điểm của hệ thống pháp lý CSVN

LS Đào Tăng Dực

www.daotangduc.blogspot.com 

Hệ thống pháp lý của CSVN có rất nhiều khuyết điểm, cho phép công an và tòa án đối xử rất tệ với công dân.

 

I.              Những bất công thông thường:

Ngoài những tình trạng tra tấn dã man trong các đồn công an, trong giai đoạn điều tra, đưa đến tử vong, có rất nhiều án oan trái dân oan mất đất, tù nhân lương tâm, báo chí lề trái… phải gánh chịu, còn có tham nhũng tràn lan trong nghành công an, làm cho đời sống công dân càng cơ cực hơn.

Các trường hợp nổi bật gồm Nguyễn Văn Chưởng, Hồ Duy Hải, Tử tù Lê Văn Mạnh (đã bị hành quyết tháng 9, 2023) đã gây chấn động trên bình diện quốc tế. Nhất là việc thi hành án tử hình đối với Lê Văn Mạnh, hầu như tất cả các quốc gia thành viên EU, Canada, Na Uy và Anh quốc đã kêu gọi CSVN ngừng thi hành án.

 

II.            Địt mẹ tòa:

 

Hệ thống pháp lý tệ hại và bị nhân dân khinh bỉ đến mức độ câu chửi “Địt mẹ tòa” của tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Túc năm 2018, trở thành lời hiệu triệu của toàn dân trước những bất công của pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Bài thơ sau đây của thi sĩ Thái Bá Tân, do Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do đăng trên Facebook ngày 16 tháng 9, 2018, nói lên những bức xúc trong nhân dân.

ĐỊT MẸ TÒA!

Thái Bá Tân

Hôm qua xử phúc thẩm

Y án mười ba năm

Với anh Nguyễn Văn Túc,

Một tù nhân lương tâm.

Anh chấp nhận bản án,

Không van xin, kêu ca.

Nghe nói chỉ nhếch mép

Và chửi: “Địt mẹ tòa!”

Một câu chửi vĩ đại,

Ngay ở chốn công đường.

Chửi bộ máy tư pháp

Vớ vẩn và nhiễu nhương.

Bộ máy tư pháp ấy

Đáng chửi gấp nghìn lần.

Chỉ giỏi nâng bi đảng,

Gây oan ức cho dân.

Đừng nhắc đến công lý

Với tòa án nước ta.

Tôi, bị đem ra xử,

Cũng nói:”Địt mẹ tòa!”

 

III.         Luật tạm giam chờ điều tra quá bất công:

Đây là một bất công nền tảng của pháp lý xã hội chủ nghĩa vì trong giai đoạn này, mặc dầu nghi can vẫn còn giả định vô tội, nhưng họ đã bị chính quyền đàn áp triệt để. Lý do là vì thời gian một nghi can bị tạm giam để điều tra tính bằng giờ hay ngày tại các quốc gia dân chủ thì phải tính bằng tháng hay năm tại Việt Nam và có thể kéo dài vô giới hạn.

Mặc dầu Hiến pháp 2013 quy định:

Điều 31 (2). “Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai”.

Tuy nhiên chính quyền CSVN phớt lờ và thông qua Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, với thời hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra như sau:

Tội ít nghiêm trọng: không quá hai tháng và được gia hạn, tổng thời gian không quá ba tháng; qua đến những tội nghiêm trọng hơn và cuối cùng là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: không quá bốn tháng, được gia hạn, tổng thời gian không quá mười hai tháng. Đối với những tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thì thời hạn tạm giam có thể được gia hạn thêm cho đến khi kết thúc điều tra.

Nên nhớ giai đoạn này, nghi can vẫn là người vô tội. Thời gian tạm giam như vậy quá dài, thực sự là không tưởng tượng được và đi đến bất công khi so sánh với các quốc gia dân chủ chân chính.

IV.         So sánh với quốc tế:

Khi so sánh với các quốc gia dân chủ sau đây, chúng ta sẽ ý thức thêm mức độ bất công của Việt Nam.

Tại New South Wales Úc, thì hình luật là thẩm quyền của tiểu bang. Theo luật NSW thì cảnh sát chỉ có quyền tạm giam một nghi can 6 tiếng đồng hồ. Nếu cảnh sát xin được lệnh tòa án thì có thể kéo dài thêm 6 tiếng nữa. Sau đó phải truy tố hoặc trả tự do cho nghi can.

Tại Tiểu bang California Hoa Kỳ thì cảnh sát chỉ được quyền tạm giam nghi can tối đa là 48 tiếng là phải trả tự do hoặc truy tố ra tòa nếu đủ chứng cớ.

Tại Pháp thì cảnh sát được quyền tạm giam 48 tiếng, sau đó nếu được sự cho phép của một Công Tố Viên cấp Quận có thể thêm 48 tiếng nữa và trong những trường hợp tội phạm đặc biệt nghiêm trọng như khủng bố, thì với sự cho phép của một vị quan tòa đặc nhiệm, có thể lên đến 6 ngày.

Khi so sánh như thế, chúng ta mới nhận thấy tính hung ác của pháp chế xã hội chủ nghĩa đối với công dân cá thể, vào thời điểm hung hiểm nhất khi họ phải đối diện với công an hình sự và khi so sánh với công dân các nước dân chủ chân chính.

V.            Hệ thống pháp lý Việt Nam trên hình thức:

Theo Wikipedia, hệ thống pháp lý CSVN hiện hành như sau:

1.    Tòa án nhân dân tối cao, trực thuộc Trung ương, là tòa án nhân dân cấp cao nhất trong hệ thống luật pháp.

2.    Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền tư pháp trên phạm vi nhiều đơn vị hành chính cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

3.    Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

4.    Tòa án nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh và tương đương

5.    Ngoài ra còn có Tòa án Quân sự các cấp.”

Công dân trên nguyên tắc cũng có quyền kháng cáo từ tòa án thập lên đến tòa cấp cao hơn và Tòa án nhân dân tối cao là định chế pháp lý có tiếng nói chung quyết như trong các quốc gia dân chủ.

VI.         Các khuyết điểm của hệ thống pháp lý VN trên thực tế:

Tuy bề mặt hệ thống pháp lý VN không khác các quốc gia dân chủ nhưng trên thực tế rất nhiều khuyết điểm và thiếu tính độc lập tuyệt đối để thi hành công lý:

1.    Tính phản công lý của nguyên tắc “tập trung dân chủ”:

Các quan tòa đều là đảng viên đảng CSVN và bị ràng buộc bỡi nguyên tắc “tập trung dân chủ” trên 2 tư cách. Trên tư cách đảng viên thì họ bị ràng buộc bỡi nguyên tắc này trong của nội quy đảng.  Trên tư cách thẩm phán và công viên chức nhà nước thì họ bị ràng buộc bỡi cùng nguyên tắc “tập trung dân chủ này” trong điều 8 Hiến Pháp.

Nguyên tắc này quy định “thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng trung ương”. Có nghĩa là các thẩm phán/ đảng viên (từ Tòa án Nhân Dân Tối Cao đến tòa án nhân dân huyện) bị ràng buộc bỡi nguyên tắc này nên không thể xử án theo sự kiện và luật pháp khách quan như tại các quốc gia dân chủ, mà phải xử theo mệnh lệnh các cấp ủy liên hệ. Tại các quốc gia dân chủ chân chính, các vị thẩm phán không hề bị ràng buộc bỡi bất cứ nội quy của bất cứ chính đảng nào.

Nguyên tắc “Tập trung dân chủ” trói buộc tất cả các thẩm phán từ cấp tòa án thấp nhất đến Tòa Án Nhân Dân Tối Cao (TP Nguyễn Hòa Bình). Mọi cấp tòa đều có cấp đảng ủy liên hệ và phải xử theo chỉ thị đảng.

2.    Nhiệm kỳ giới hạn 5 năm:

 

Các thẩm phán đều có nhiệm kỳ nhất định, thường là 5 năm. Nếu không xử án theo ý của đảng thì trên nguyên tắc, sau 5 năm sẽ không được tái bổ nhiệm. Tuy nhiên trên thực tế thì không cần chờ tới 5 năm, có thể bị kỷ luật đảng và vào tù trước thời hạn. Trong khi đó, tại các quốc gia dân chủ, các thẩm phán thông thường được bổ nhiệm với nhiệm kỳ hoặc vô hạn định, hoặc đến tuổi hưu trí, hoặc đến khi mất khả năng sức khỏe hoặc trí tuệ, hoặc khi tự động rời chức vụ, hoặc khi bị kết án tội hình sự. Họ chỉ có thể bị cách chức với sự đề nghị của chính phủ và được quốc hội thông qua. Chính vì thế họ hoàn toàn công tâm xét xử.

3.    Thẩm phán CSVN được bổ nhiệm vì “Hồng” không phải “Chuyên”:

Các thẩm phán tại các quốc gia dân chủ đều là những luật gia không những được huấn luyện chuyên nghiệp sâu và là những chuyên gia nổi tiếng trong xã hội. Họ được bổ nhiệm không phải vì lòng trung với đảng như trong chế độ CSVN mà vì sự uyên bác và tính trung trực liêm khiết của họ.

4.    Lương bổng các Thẩm Phán VN không tương xứng với vị trí xã hội:

Các thẩm phán cũng như viên chức cao cấp khác trong guồng máy chính quyền các nước dân chủ đều nhận được lương bỗng rất cao. Họ có thể sống thoải mái, nuôi nấng gia đình và nếu hành xử đúng theo lương tri và luật pháp sẽ được xã hội trọng vọng và lưu lại một di sản tinh thần khả kính cho hậu thế. Khác với các thẩm phán CSVN nhận lương bèo và luôn bị cám dỗ phải hối lộ, chạy án …để vinh thân phì da.

Trước hết, chúng ta phải nhận xét ngay rằng, sau nhiều thập niên thiếu dân chủ, dân tộc chúng ta đã tụt hậu tang thương trong tiến trình xây dựng một chế độ pháp trị nghiêm chỉnh. Chính vì thế, tuy dân ta có một nền văn hóa sâu dày, một nền văn hiến hiển hách, nhưng nền chính trị đất nước lại thiếu thốn những yếu tố căn bản để xây dựng một nền dân chủ pháp trị tiến bộ.

 

VII.       Chúng ta cần làm gì hầu cải tổ hệ thống pháp lý VN?

 

Các yếu tố chúng ta thiếu và cần phải xây dựng là:

 

1. Một bản hiến pháp dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên chân chính, căn cứ trên tam quyền phân lập

 

2. Sự hiện hữu của một cơ quan tư pháp tối cao, chí công vô tư, như Tối Cao Pháp Viện tại các nước dân chủ chân chính, vượt lên trên mọi đảng phái và phe nhóm chính trị và có thẩm quyền hiến định để phán quyết tính hợp hiến hoặc vi hiến của một sắc luật của lập pháp, hoặc một tác động của hành pháp

 

Tối cao pháp viện này cũng có thẩm quyền nguyên thủy giải quyết các xung đột giữa lập pháp và hành pháp, cũng như những xung đột giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương (như chính quyền tỉnh).

 

3. Một hệ thống đào tạo cấp đại học hoặc cao đẳng quy mô và phi ý thức hệ hầu huấn luyện chuyên ngành những luật gia và thẩm phán tương lai

 

4. Một luật sư đoàn độc lập tuyệt đối với chính quyền hoặc bất cứ một thế lực đệ tam nào, và bao gồm những thành viên luật sư chuyên nghiệp qua một quá trình học vấn cao cấp nghiêm chỉnh

 

5.    Một đội ngũ thẩm phán chuyên nghiệp, độc lập và chí công vô tư, không lệ thuộc vào chính quyền

 

6.    Một công tố viện dưới quyền điều động của một giám đốc công tố mà phẩm trật (status) cũng như phương thức bổ nhiệm (appointment) tương đương với một thẩm phán tối cao pháp viện, hoàn toàn độc lập đối với hành pháp và lập pháp.

 

7.    Sự hiện diện của một cẩm nang về đạo đức nghề nghiệp và nguyên tắc hành xử (Ethical and professional code of conduct) thống nhất cho các thẩm phán nghành tư pháp mọi cấp.