Liên Minh Chính Trị Không Cộng Sản cho Việt Nam- một mệnh lệnh của lịch sử
Luật sư Đào Tăng Dực
Constitution Hill, Sydney
28/7/2026
I. Vì sao cần phải Liên Minh (LM)?
Trong môi trường chính trị
thực tế đương đại, LM chính trị là lẽ sống duy nhất của mỗi tổ chức và cá nhân
người Việt quốc gia. Không có LM mỗi tổ chức hay thực thể riêng biệt không khác
nào một đàn cá nhốt trong ao tù, không bao giờ thoát ra biển khơi để lớn mạnh
vùng vẫy hầu trở thành một lực lượng chính trị đủ sức đối trọng với đảng CSVN.
Một LM tầm vóc có thể quy
tụ về một tổng thể duy nhất: tài lực, nhân vật lực, kinh nghiệm đấu tranh, trí
tuệ và chuyên môn của nhiều thực thể khác nhau, bổ sung những khuyết điểm và
triển khai những ưu điểm của nhau.
Tác giả đã đề cập đến vấn
nạn này một cách có hệ thống từ năm 2020. Đến nay chúng ta vẫn chưa có một liên
minh chính trị của người Việt quốc gia, đủ thực lực và uy tín trong nước lẫn
ngoài nước. Tuy nhiên không có nghĩa là chúng ta dẫm chân tại chỗ trong suốt thời
gian qua.
Ngược lại nhiều đoàn thể,
tổ chức không CS, có uy tín, chiều dài lịch sử, đường lối đấu tranh nghiêm chỉnh,
đã và đang góp sức xây dựng. Hy vọng, một LM đủ tầm vóc sẽ được hình thành
trong tương lai gần.
Lịch sử đương đại chứng
minh rằng LM , tuy dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng là một điều kiện ắt có
cho những tổ chức chính trị, tạo ra đủ lực để lật đổ một chính quyền độc tài sở
hữu những phương tiện đàn áp như quân đội và công an trong tay.
Các LM sau đây sẽ chứng minh rằng, LM chính là một
quy luật bất biến trong lịch sử đấu tranh nhân loại đương đại, hầu chiến thắng
những chế độ độc tài như CSVN.
Đối với những tổ chức chính trị người Việt Quốc Gia,
LM cũng là một mệnh lệnh của lịch sử.
II.
Sự thành công không thể chối cãi của các LM chính trị trong lịch sử đương đại:
Một trong những Liên Minh cận đại nhất là tổ chức
PLO (Palestine Liberation Organization) tại Trung Đông hiện đang nắm quyền tại
vùng West Bank của Palestine qua đảng Fatah là thành phần cấu trúc lớn nhất
trong LM.
Sau đó là Liên Minh Quốc Gia vì Dân Chủ (National
League for Democracy) gọi tắc là NLD tại Miến Điện là một chính đảng dưới sự
lãnh đạo của Bà Aung San Suu Kyi, tuy bị chính quyền quân phiệt đàn áp và lãnh
tụ bị giam cầm, nhưng đã làm thay đổi cục diện chính trị Miến Điện. LM đã thắng
các cuộc bầu cử 2015 và 2020. LM không phải một liên minh thuần các tổ chức
chính trị, nhưng vận hành như một phong trào liên minh gồm nhiều tầng lớp xã hội,
nhóm dân chủ và mạng lưới địa phương ủng hộ họ.
Sau khi bị quân phiệt Miến cướp chính quyền NLD đã
tham gia vào một LM rộng rãi hơn là Liên minh chống độc tài quân sự Myanmar
(NUG – CRPH – PDF – liên minh sắc tộc)
Mục tiêu: Chống chế độ quân sự sau đảo chính 2021.
Thành phần:
NLD (đảng dân chủ)
CRPH (đại biểu được bầu)
NUG (chính phủ thống nhất quốc gia)
PDF (lực lượng vũ trang dân chủ)
Các nhóm sắc tộc vũ trang (KIA, KNLA, CNF…)
Kết quả:
Liên minh này đang kiểm soát nhiều vùng lãnh thổ, trở
thành một trung tâm quyền lực đối trọng với quân đội.
Để
minh chứng rõ hơn sức mạnh của hình thưc LM, chúng ta nên duyệt qua danh sách các
LM đã làm nên lịch sử:
1) Liên minh chống phát xít (Anti‑Fascist
Popular Fronts – châu Âu thập niên 1930–1940)
Chống lại các chế độ độc tài phát xít (Hitler,
Mussolini, Franco).
Kết quả:
Nhiều liên minh Mặt trận Bình dân (Popular Front) thắng
cử ở Pháp (1936) và Tây Ban Nha (1936).
Ở Tây Ban Nha, liên minh này trở thành chính phủ hợp
pháp, chống lại cuộc nổi dậy của Franco.
2)
Liên minh kháng chiến chống Đức Quốc Xã (WWII Resistance Coalitions)
Mục tiêu: Lật đổ sự chiếm đóng độc tài của Đức Quốc
Xã.
Sau chiến tranh, nhiều lực lượng kháng chiến trở
thành đảng cầm quyền hoặc trụ cột trong chính phủ dân chủ mới (Pháp, Ý, Na Uy,
Hà Lan).
Ví dụ: Đảng Dân chủ Thiên Chúa giáo Ý và Đảng Xã hội
Pháp đều xuất thân từ liên minh kháng chiến.
3)
Liên minh Mặt trận Dân tộc Giải phóng Algeria (FLN)
Mục tiêu: Chống chế độ thực dân – độc tài của Pháp.
Kết quả:
FLN giành độc lập (1962) và trở thành đảng cầm quyền
duy nhất trong nhiều thập kỷ.
4) Liên minh Mặt trận Giải phóng Mozambique
(FRELIMO)
Mục tiêu: Chống chế độ thực dân Bồ Đào Nha (độc tài
Salazar).
Thành phần:
Các nhóm vũ trang và phong trào dân tộc hợp nhất.
Kết quả:
FRELIMO giành độc lập (1975) và trở thành đảng cầm
quyền.
5) Liên minh Mặt trận Nhân dân Zimbabwe
(ZANU–ZAPU → ZANU‑PF)
Mục tiêu: Chống chế độ thiểu số da trắng độc tài của
Rhodesia.
Thành phần:
Hai lực lượng vũ trang ZANU và ZAPU hợp nhất.
Kết quả:
Giành độc lập (1980), trở thành đảng cầm quyền đến
nay.
6)
Liên minh chống độc tài quân phiệt Châu Mỹ Latin (Chile, Argentina, Brazil)
Mục tiêu: Chống các chế độ quân sự độc tài thập niên
1970–1980.
Thành phần:
Đảng dân chủ – xã hội
Công đoàn
Giáo hội
Các phong trào nhân quyền
Kết quả:
Chile: Concertación thắng cử 1989, nắm quyền 20 năm.
Brazil: Liên minh dân chủ (MDB + các nhóm xã hội) dẫn
dắt quá trình chuyển đổi dân chủ.
Argentina: Liên minh dân chủ thắng cử 1983, chấm dứt
độc tài quân sự.
7)
Liên minh chống Apartheid Nam Phi (ANC + COSATU + SACP)
Mục tiêu: Lật đổ chế độ Apartheid độc tài – phân biệt
chủng tộc.
Thành phần:
ANC (đảng chính trị)
COSATU (công đoàn)
SACP (đảng cộng sản)
Kết quả:
Liên minh thắng cử 1994, Nelson Mandela trở thành tổng
thống.
ANC tiếp tục cầm quyền đến nay.
8)
Liên minh chống độc tài Franco ở Tây Ban Nha (1975–1978)
Mục tiêu: Chuyển đổi từ độc tài Franco sang dân chủ.
Thành phần:
Đảng Xã hội (PSOE)
Đảng Cộng sản (PCE)
Các phong trào dân chủ, công đoàn
Các đảng trung hữu cải cách
Kết quả:
Liên minh dân chủ soạn thảo Hiến pháp 1978.
PSOE thắng cử 1982, nắm quyền nhiều nhiệm kỳ.
9)
Liên minh chống độc tài Bồ Đào Nha (Mặt trận MFA – 1974)
Mục tiêu: Lật đổ chế độ độc tài Salazar/Caetano.
Thành phần:
Sĩ quan trẻ (MFA)
Các đảng dân chủ, xã hội, cộng sản
Kết quả:
Cách mạng Hoa Cẩm Chướng 1974 thành công.
Các đảng dân chủ lên nắm quyền, xây dựng nền dân chủ
mới.
10)
Liên minh chống độc tài Tunisia (2011)
Mục tiêu: Lật đổ chế độ Ben Ali.
Thành phần:
Công đoàn UGTT
Các đảng dân chủ
Các phong trào xã hội
Kết quả:
Liên minh dân chủ soạn Hiến pháp 2014.
Nhiều đảng trong liên minh tham gia chính phủ.
11)
Liên minh chống độc tài Serbia (2000 – DOS)
Mục tiêu: Lật đổ chế độ Milošević.
Thành phần:
18 đảng phái dân chủ
Các phong trào sinh viên (Otpor!)
Kết quả:
DOS thắng cử 2000, lật đổ Milošević và nắm quyền.
12)
Liên minh chống độc tài quân sự Sudan (2019 – FFC)
Mục tiêu: Chấm dứt chế độ độc tài của al‑Bashir.
Thành phần:
Forces of Freedom and Change (FFC)
Công đoàn, đảng dân chủ, phong trào xã hội
Kết quả:
FFC tham gia chính phủ chuyển tiếp 2019–2021.
13)
Liên minh chống độc tài Ethiopia (1991 – EPRDF)
Mục tiêu: Lật đổ chế độ quân sự Mengistu.
Thành phần:
TPLF + các nhóm vũ trang khác
Kết quả:
EPRDF nắm quyền gần 30 năm.
Ngoài
13 ví dụ nêu trên, dĩ nhiên còn rất nhiều LM khác trong dòng lịch sử nhân loại như
sẽ nêu ra trong phần mục lục.
III. Tại sao chúng ta chưa có một liên minh có tầm
vóc làm nên lịch sử?
Đến giai đoạn này trong lịch
sử, lý do người Việt quốc gia chúng ta chưa có một LM chính trị có thực lực được
vì đa số những nhà tranh đấu và tổ chức chính trị suy nghĩ sai lầm và thụ động
trong tư tưởng rằng:
1. Chúng ta phải chờ đợi khi các điều kiện chín mùi
và đáp ứng mong đợi của chúng ta, lúc đó mới LM.
Thực tế cho thấy, trong môi
trường chính trị, đây là một tư duy sai lầm trầm trọng. Thực ra lịch sử không bao
giờ hoàn hảo cả. Lịch sử chỉ thiên vị cho những cá nhân và tập thể, không những
biết nắm bắt thời cơ, mà còn tạo ra thời cơ cho mình.
Chính vì thế, đã đến lúc:
2. Một mặt chúng ta nắm bắt thời cơ
3. Mặt khác chúng ta phải tích cực tạo những điều
kiện để chúng ta có thể LM chứ không nên chờ đợi.
Chúng ta không thể viện
những thất bại trong quá khứ của chính mình hay của tha nhân mà quyết định rằng:
không thể nào LM được, cần phải chờ thêm.
Mỗi tổ chức hoặc cá nhân
chúng ta phải dấn thân tạo điều kiện, LM này thất bại, rồi phải cố gắng LM khác
nữa cho đến khi thành công. Không hề sợ kẻ khác chê cười. Thành quả cuối cùng mới
là quan trọng cho đất nước và dân tộc Việt Nam.
Chúng ta phải đối diện với
nhiều trở lực:
- Khách quan: từ CSVN
đánh phá, chia rẽ, đàn áp, xâm nhập, chống cộng cuội …
- Chủ quan: từ nội bộ của
người quốc gia tinh thần chia rẽ cố hữu, kém hiểu biết, bản ngã cao, khả năng
thiếu, vị kỷ muốn trục lợi….
Tuy nhiên chúng ta cũng có những yếu tố thuận
lợi:
- Thiên thời: Kỹ nghệ tin
học nhất là trí tuệ nhân tạo xóa tan biên giới giữa người và người, đem lại sự
hiểu biết và thông tin nhanh chóng, nhất là xóa tan biên giới giữa một chính
quyền độc tài với nhiều tài nguyên và những tổ chức nhỏ hơn nhưng biết sử dụng
kỹ thuật thông minh.
- Địa lợi: Kỹ nghệ tin học
cũng rút ngắn khoảng cách giữa quốc nội và hải ngoại và gắn liền dân tộc với những
trào lưu hiện đại nhất của nhân loại
- Nhân hòa: Cả nhân loại,
kể cả người Việt Nam, đều bắt đầu ý thức quyền làm người và trào lưu dân chủ thực
sự là bất khả vãn hồi.Sự lên ngôi của Tô Lâm và guồng máy công an trị ngày càng
lộ ra tính tàn ác của chế độ.
Thời điểm đã đến cho sự
hình thành một LM chính trị mạnh hầu đối trọng chính thức với CSVN.
IV. Yếu tố chính nào cần thiết để thành lập một LM có thể chiến thắng CSVN?
Vì Phong Trào Đệ Tam Quốc
Tế cộng sản, do Lê Nin khai sáng là tập hợp những cá nhân chuyên nghiệp trong
công tác vận dụng và khai thác những bản năng vị kỷ thấp hèn nhất của nhân loại,
hầu tạo ra một trật tự chính trị bá quyền và bá đạo để thống trị thế giới. Tuy
nhiên những cá nhân này thông thường tham lam, tranh giàng chức vụ và quyền lợi.
Chính vì thế muốn chiến thắng các đảng CS, trong đó có CSVN, chúng ta phải làm
ngược lại chúng.
Đó là kết hợp và xây dựng
môt đội ngũ nhân sự đấu tranh trong sang của thời đại:
1. Một mặt có viễn kiến và trí tuệ vượt lên trên
các cán bộ CS nắm bắt trong trí tuệ mô hình một trật tự chính trị nhân bản và
khai phóng nhất của thời đại.
Theo quan điểm của tôi,
ngoài sự đóng góp của những tổ chức và thức giả khác trong cộng đồng dân tộc, trật
tự chính trị đó có thể bao gồm những nét chính sau đây:
a. Nhu cầu phục hưng văn
hóa và đạo đức dân tộc
b. Xây dựng dân chủ hiến
định pháp trị và đa nguyên
c. Ý thức được thế nào là
một tương quan nghiêm chỉnh giữa văn hóa dân tộc (cứu cánh) và dân chủ (phương
tiện)
d. Ý thức được vai trò
chiến lược của quan điểm pháp trị trong tiến trình dân chủ hóa
e. Ý thức được tkhác biệt
ý thức hệ (cuồng tín) và tự do tư tưởng (khai phóng)
f. Ý thức được sự cân bằng
giữa các định chế xã hội và con người cá thể
2. Mặt khác gồm thâu trong nhân cách những bảng giá
trị đạo đức vị tha và cao thượng nhất của nhân loại. Vì chúng ta là một xã hội
Đông Á, truyền thống đạo đức của chúng ta sẽ bao gồm những bản giá trị truyền
thống như:
Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín
và những bản giá trị từ Phật Giáo như Từ Bi hoặc Thiên Chúa Giáo như Bác Ái
Ngoài ra một số các bản
giá trị nền tảng của nhân loại như: chân lý và công bằng xã hội cũng có giá trị
về đạo đức.
Chính vì thế, các cá nhân
và tập thể tham gia LM chỉ có thể thành công ở mức độ họ phải chinh phục các bản
năng vị kỷ và thấp hèn con người hầu thể hiện các đức tính sau đây:
1. Sự chí thành trong tư
duy và hành động
2. Sự tương kính
3. Tinh thần vị tha
4.Khả năng sửa đổi nếu
sai lầm
Những trò mánh mung, cướp
công, bá quyền hoặc dối trá lừa gạt quần chúng lẫn những cộng sự viên của mình
phải tuyệt đối gạt bỏ.
Qua nhiều thập niên tranh
đấu tại hải ngoại cũng như trong nước, cộng với sự phát triển vượt bực của tin
học, những gian dối và lọc lừa không còn lừa gạt được ai.
Chúng ta phải chứng minh “tính thiện” của chúng ta
qua hành động thực thế. Chúng ta tư duy và sống thật tính thiện của mình và người
cộng sự của chúng ta sẽ nhìn thấy. Tính thiện này vô cùng cần thiết để đối nghịch
với “Tính Ác” của người cộng sản Việt Nam.
Đây không phải là lý thuyết vẩn vơ mà đòi hỏi khách
quan của lịch sử để gầy dựng lại niềm tin trong cộng đồng dân tộc vì sự gian dối
của đảng CSVN và tính lọc lừa cố hữu của một vài tập thể chống cộng đã làm suy
kiệt niềm tin này.
V. Một vài mô hình LM tiêu biểu:
Sau đây là một vài mô
hình kết hợp tiêu biểu giữa các tổ chức chính trị, từ chặc chẽ tối đa đến lỏng
lẻo tối đa.
A. Mô hình thống hợp
1. Giải thể các tổ chức
khác nhau tham gia
2. Thành lập một tổ chức
thống hợp mới
3. Một cương lĩnh và nội
quy hoàn toàn mới
4. Ví dụ điển hình trên
phương diện quốc gia là Tần Thủy Hoàng gồm thâu lục quốc và thành lập một nước
Trung Hoa duy nhất. Các tiểu quốc biến thành tỉnh huyện trong nước Trung Hoa thống
nhất này.
B. Mô hình liên kết chặc chẽ
1. Các tổ chức tham gia vẫn
giữ danh xưng, cấu trúc, cương lĩnh và nội quy của mình
2. Các tổ chức tham gia đồng
ý nhường một số lãnh vực đấu tranh cho một thực thể đấu tranh chung
3. Thành lập một thực thể
đấu tranh chung với một danh xưng mới
4. Thành lập một cương
lĩnh và nội quy cho thực thể đấu tranh chung
5. Ví dụ điển hình trên
phương diện quốc gia là một quốc gia theo thể chế liên bang như Hoa Kỳ, Úc Đại
Lợi hoặc Cộng Hòa Liên Bang Đức. Ví dụ tổ chức đấu tranh hải ngoại là Lực Lượng
Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc đang điều hành Đài Phát Thanh Đáp Lời Sông Núi.
C. Mô hình liên kết lỏng lẻo
17. Các tổ chức tham gia
vẫn giữ danh xưng, cấu trúc, cương lĩnh và nội quy của mình
2. Các tổ chức đồng thuận
thành lập một thực thể đấu tranh chung với một danh xưng mới
3. Thực thể này không cần
cương lĩnh hay nội quy riêng, chỉ cần một vài mục tiêu đồng thuận giữa các tổ
chức như:
a. Lật đổ độc tài đảng trị
tại Việt Nam
b. Xây dựng một nền dân
chủ hiến định pháp trị và đa nguyên cho dân Việt
4. Nền tảng của một liên
minh lỏng lẻo như vậy chỉ cần xây dựng trên một bản tuyên ngôn chung (joint
declaration hay memorandum of understanding) là đủ
Ví dụ một liên minh chính trị như thế là Liên
Đảng Tự Do- Quốc Gia tại Úc Đại Lợi (Liberal/National coalition)
D. Mô hình kết hợp hành động
1. Các tổ chức tham gia vẫn
giữ danh xưng, cấu trúc, cương lĩnh và nội quy của mình
2. Các tổ chức đồng thuận
thành lập một thực thể đấu tranh chung với một danh xưng mới
3. Thực thể này không cần
cương lĩnh hay nội quy riêng, chỉ cần một vài mục tiêu đồng thuận giữa các tổ
chức như:
a. Lật đổ độc tài đảng trị
tại Việt Nam
b. Xây dựng một nền dân
chủ hiến định pháp trị và đa nguyên cho dân Việt
4. Thực thể này không cần
cương lĩnh hay nội quy riêng, chỉ cần một sự phân chia công tác trên các căn bản
sau đây:
a. Tùy theo nhu cầu của
công cuộc đấu tranh
b. Tùy theo khả năng của
mỗi tổ chức
c. Tổng hợp 2 điều trên
5. Tuy nền tảng của một
liên minh lỏng lẻo như vậy nhưng vẫn cần xây dựng trên một bản tuyên ngôn chung
nói lên các mục tiêu đồng thuận và căn bản phân chia công tác
E. Một hội đồng điều hợp các tổ chức
1. Các tổ chức tham gia vẫn
giữ danh xưng, cấu trúc, cương lĩnh và nội quy của mình
2. Các tổ chức tham dự
hoàn toàn độc lập. Tuy nhiên khi có một công tác quan trọng có thể hợp tác hoặc
phân chia công tác tùy theo nhu cầu đấu tranh
3. Hội đồng có thể có một
danh xưng riêng
4. Các quyết định của hội
đồng không có tính ràng buộc
Một ví dụ điển hình là
Bàn Tròn Dân Chủ của cố GS Đoàn Viết Hoạt
F. Mô hình kết hợp một vài
yếu tính của mỗi mô hình nêu trên
Bất cứ một hình thức LM
nào gồm một hay nhiều yếu tính từ các mô hình khác nhau.
G. Vài nét về Liên Đảng Tự
Do- Quốc Gia tại Úc như là một LM đang vận hành:
Hai đảng Tự Do (Liberal)
và Quốc Gia (National) đại diện cho các lực lượng chính trị bảo thủ tại Úc và đối
đầu với đảng Lao Động (Labour) là lực lượng chính trị cấp tiến. Đảng Tự Do có
căn cứ tại các vùng đô thị. Đảng Quốc Gia tại các vùng nông thôn. Úc là một chế
độ đa đảng ngoài các đảng nêu trên còn có nhiều đảng nhỏ hơn và cá nhân độc lập
khác.
Giữa Tự Do và Quốc gia có
một khế ước liên minh. Một cách tổng quát thì Tự Do là senior partner và Quốc
Gia là junior partner. Lý do đơn giản là vì Úc là một quốc gia kỹ nghệ và vùng
đô thị đông dân hơn. Chính vì thế số dân biều đắc cử trong quốc hội của đảng Tự
Do đông hơn là đảng Quốc Gia.
Vì Úc theo quốc hội chế,
nếu LM thắng cử đa số trong Hạ Viện thì Lãnh tụ của đảng Tự Do trở thành thủ tướng
và lãnh tụ đảng quốc gia trở thành phó thủ tướng. Nội các sẽ gồm đa số thuộc đảng
Tự Do và thiểu số thuộc đảng Quốc Gia như hiện nay.
Nếu thua trong cuộc bầu cử
thì các sắp xếp trong chính phủ đối lập (Opposition- hay shadow cabinet) cũng
phản ảnh tương tự.
Một LM như thế hoàn toàn
cởi mở và chúng ta có thể học được nhiều bài học từ kinh nghiệm này.
IV. Những yếu tố cần cân nhắc khi thành lập LM:
Trước khi quyết định chọn
hình thức LM nào phù hợp với nhu cầu tranh đấu cho tự do và dân chủ cho đất nước,
chúng ta cần cân nhắc các yếu tồ sau đây:
1. Cân nhắc lợi và hại giữa
một LM chặc chẽ và một LM lỏng lẻo:
Thông thường một LM chặc
chẽ tạo ra nhiều sức mạnh và dễ điều hợp hay lãnh đạo hơn một LM lỏng lẻo. Tuy
nhiên đòi hỏi nhiều thời gian và khó tìm tổ chức tham gia hơn. Một LM lỏng lẻo
ngược lại dễ thành lập hơn vì số tổ chức hoặc nhân sự tham gia nhiều hơn nên có
thể bao trùm nhiều phương diện và đa dụng hơn.
2. Cân nhắc giữa mục tiêu
chung và khả năng chuyên biệt:
Trong một mô hình B (Liên
Kết chặc chẽ) hoặc C (Liên Kết lỏng lẻo) chúng ta không những có nhu cầu nhu cầu
nhận diện các mục tiêu chung (common objectives) mà chúng ta còn có nhu cầu cần
nhận diện và phân chia công tác tùy theo khả năng (distribution of work
according to capacity) của từng tổ chức hoặc cá nhân tham gia, hầu những hoạt động
của LM đạt đến thành quả tối đa.
3. LM là một nổ lực liên
tục:
Thành lập LM không dễ
chút nào. Đây là một công tác khó khăn nhưng có tính sinh tồn (existential) đối
với các lực lượng đấu tranh dân chủ. Chúng ta thành công trong việc hình thành
một LM có thực lực và uy tín trong quốc nội lẫn quốc tế là đã đi được hơn nửa
con đường lật đổ CSVN rồi. Chính vì thế chúng ta phải cố gắng thành lập LM liên
tục và sau đó duy trì LM liên tục vì LM là lẽ sống của dân tộc. Không thể buông
bỏ vì trở lực hay thất bại nhiều lần đầu tiên.
4. LM không phải nhất thiết
chỉ thuần nhất là LM các tổ chức chính trị.
Mọi thực thể đấu tranh chống
lại độc tài, từ các đảng phái, tổ chức chính trị, đến xã hội, văn hóa, từ thiện
và nhân sĩ, cá nhân đều có thể tham gia LM. LM chỉ có sức mạnh nếu chúng ta huy
động toàn bộ xã hội dân sự. Phải làm sao để tạo một tổng lực càng hùng mạnh
càng tốt để đối đầu với CSVN.
Trên phương diện này
National League for Democracy (NLD) tại Miến Điện nêu trên là một ví dụ điển
hình.
5. LM không nhất thiết chỉ
là LM các hội đoàn và tổ chức:
LM còn có chỗ cho các
nhân sĩ có khả năng và yêu nước chân chính. Một cấu trúc để đoàn ngũ hóa cá
nhân tham gia LM tạm gọi là Hội Đồng Nhân Sĩ nên được thành lập như một phần của
cấu trúc LM hầu các nhân sĩ có thể có chỗ đứng và góp phần hiệu năng.
6. Liên Minh giữa những
Liên Minh:
Một LM đang hoạt động gia
nhập thành lập một LM khác làm việc hữu hiệu hơn là một khả năng hoàn toàn có
thể xảy ra và vẫn có giá trị tích cực
7. Tác động gia nhập hoặc
rời khỏi một LM:
Một tổ chức tham gia một
LM sau đó thay đổi ý kiến và rời khỏi LM tuy có thể làm suy yếu LM hoặc làm giảm
uy tín của tổ chức đó. Tuy nhiên sự suy yếu LM hay giảm uy tín của tổ chức
không phải lúc nào cũng tiêu cực. Trong một LM càng nhiều tổ chức tham gia thì
sự tiêu cực càng giảm thiểu. Chúng ta không nên vì điều này mà quá dè dặt tới mức
độ không dám tham gia vào một LM chính trị nào
8. Một hay nhiều LM?
Không nhất quyết chỉ có một
LM mà nhiều hơn một LM vẫn tốt hơn là mỗi thực thể hoạt động đơn độc. Chúng ta
chủ trương đa nguyên và mục tiêu của chúng ta là tạo ra những LM có thực lực và
đủ khả năng đối trọng CSVN. Chúng ta không chủ trương nhất định phải chỉ có một
LM duy nhất.
9. Cấu trúc hòa giải các
tranh chấp và xung đột nội bộ một LM:
Một trong những điều
không thể tránh khỏi là những tranh chấp và xung đột có thể xảy ra trong một
LM. Chính vì thế sự hiện hữu của một cấu trúc dưới dạng một Ủy Ban hoặc Hội Đồng
hòa giải với những nguyên tắc căn bản được sự đồng thuận của các thành viên vô
cùng quan trọng.
10. Tương quan giữa danh
xưng và thực tế:
Thông thường nếu có thể
thì danh xưng của một LM nên phản ảnh đúng thực tế khách quan của LM đó. Có
nghĩa là một LM không nên sử dụng danh xưng là một chính đảng hoặc phong trào …
Tuy nhiên, trên bình diện
chính trị thực tế, chúng ta không cần phải cứng nhắc như thế. Miễn là chúng ta
tạo được một thực thể chính trị đủ thực lực để đối trọng với CSVN và hoàn tất
hiệu năng tiến trình dân chủ hóa là đủ. Danh xưng nào cũng sẽ được quần chúng ủng
hộ.
Trên bình diện này thì
nguyên tắc “Thực chất ưu thắng hình thức” (substance will prevail over
appearance) sẽ áp dụng.
Ngay cả khi phiên dịch
danh xưng tiếng Việt sang tiếng Anh, quy luật này cũng sẽ được áp dụng.
11. Tương quan giữa các cấu
trúc (structures) và sự vận hành (functional dynamics) của một LM:
Các cấu trúc để điều hành
một LM như một Hội Đồng Điều Hợp Trung Ương, Một Hội Đồng Tư Vấn Giám Sát, Một
Hội Đồng Nhân Sĩ, các ban, ủy ban …dĩ nhiên là rất cần thiết cho một LM. Tuy
nhiên sự vận hành của các cấu trúc trên thực tế lại phụ thuộc hoàn toàn vào khả
năng khéo léo lãnh đạo của những nhân sự liên hệ. Chính vì thế nhu cầu huấn luyện
nhân sự chuyên nghiệp là then chốt cho sự vận hành tốt của các cấu trúc, hầu
đem lại hiệu năng tối đa.
V. Kết luận:
Tài liệu này chỉ nêu ra một
vài đường nét chính để người Việt quốc gia chúng ta cùng thảo luận, hoặc có thể
thảo luận với các đối tương của một LM trong tương lai.
Nó không có tính chung
quyết hay toàn diện.
Tuy nhiên, ở mức độ giới
hạn, tài liệu không những là một tài liệu hướng dẫn các tổ chức chính trị và xã
hội mà còn hướng dẫn cả nhân sĩ và quần chúng về viễn tượng một LM chính trị của
tương lai.
Constitution Hill, Sydney
Ngày 28/7/2026
Mục Lục: từ nguồn Wikipedia:
A. Danh sách các LM đang
hoạt động trên thế giới (Active political alliances)
Australia: Liberal/National Coalition
Bulgaria: Coalition for Bulgaria, United Patriots
Czech Republic: ODS with support of Freeholders, Populars and Mayors
Germany: Christian Democratic Union/Christian Social Union
Gibraltar: GSLP–Liberal Alliance
India: Left Front, National
Democratic Alliance (NDA), United Progressive Alliance (UPA)
Ireland: Solidarity–People
Before Profit
Italy: Centre-left coalition, Centre-right coalition
South Korea: Peace and Justice
Latvia: Union of Greens and Farmers
Malaysia: Pakatan Harapan (Alliance of Hope)
Poland: United Right, European Coalition
Portugal: Unitary Democratic Coalition
Spain: Unidos Podemos, EH Bildu
Republic of China/Taiwan: Pan-Blue Coalition, Pan-Green Coalition
United Kingdom: Labour and Co-operative
Venezuela: Great Patriotic Pole, Democratic Unity Roundtable
B. Các LM trong quá khứ (Former
political alliances)
Argentina: Alliance
for Work, Justice and Education, Broad
Progressive Front
Brazil: With the
strength of the people
Chile: Alliance for Chile, Concert of Parties for Democracy, Coalition for Change, Juntos Podemos Más
France: Union for French Democracy, Federation
of the Democratic and Socialist Left, Left Front
Greece: Coalition of the Radical Left (Syriza)
Israel: Alignment, Gahal, One Israel, National Union, Likud Yisrael Beiteinu, Zionist Union
Italy: Pole for Freedoms, House of Freedoms, The Olive Tree, The Union
South Korea: Forward and Creative
Malaysia: Barisan Alternatif, Pakatan Rakyat
Mexico: Broad Progressive Front
Moldova: Alliance
for Democracy and Reforms, Alliance
for European Integration
Montenegro: Coalition
for a European Montenegro, Together for Change, Serb List
New Zealand: United-Reform Coalition, Alliance
Poland: Solidarity Electoral Action, Left and Democrats, United Left
Romania: Social
Democratic Pole, Justice and Truth Alliance, Social Liberal Union
Serbia: Democratic
Opposition of Serbia
Slovenia: Democratic
Opposition of Slovenia (DEMOS)
Ukraine: Yulia Tymoshenko Bloc, Our
Ukraine–People's Self-Defense Bloc
United Kingdom: SDP–Liberal Alliance
No comments:
Post a Comment